Thanh niên xã Bàu Hàm

Thanh niên xã Bàu Hàm Tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã Cây Gáo huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai.

16/08/2026

Hướng tới nền tảng số mang bản sắc Việt

Các mạng xã hội như Facebook, YouTube, TikTok, Instagram… không chỉ thay đổi cách người dân tiếp cận thông tin, học tập, giao lưu và kết nối mà còn trở thành kênh quảng bá hình ảnh đất nước, con người và bản sắc văn hóa.

Tuy nhiên, hoạt động chia sẻ nội dung, tương tác cộng đồng và kết nối người dùng Việt Nam chủ yếu đang diễn ra trên các nền tảng mạng xã hội do nước ngoài vận hành.

Nhìn ra thế giới, hầu hết các quốc gia có nền kinh tế số phát triển đều sở hữu những nền tảng mạng xã hội, Trung Quốc có WeChat, Douyin, Weibo, Xiaohongshu; Mỹ có Facebook, YouTube, Instagram… Dù các nền tảng toàn cầu ngày càng mở rộng phạm vi ảnh hưởng, những quốc gia này vẫn đầu tư mạnh cho các nền tảng nội địa nhằm thu hút người dùng trong nước, kết nối cộng đồng, phân phối nội dung và hình thành hệ sinh thái số mang bản sắc riêng.

Trong khi đó, Việt Nam chưa có một nền tảng mạng xã hội đủ sức thu hút đông đảo người dùng và tích hợp nhiều tiện ích trong cùng một hệ sinh thái, phần lớn cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và cộng đồng vẫn sử dụng các nền tảng xuyên biên giới để chia sẻ nội dung và tương tác. Sự phụ thuộc này khiến Việt Nam khó làm chủ dữ liệu văn hóa, bị chi phối khả năng tiếp cận người dùng thông qua thuật toán riêng, tạo nguy cơ lệ thuộc dữ liệu và lan truyền các giá trị ngoại lai.

Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng và hoàn thiện hạ tầng văn hóa số, Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam xác định xây dựng chủ quyền văn hóa trên không gian số là một trong bốn nhiệm vụ trọng tâm thời gian tới.

Để hiện thực hóa mục tiêu này, Việt Nam cần có những nền tảng mạng xã hội do doanh nghiệp trong nước phát triển và làm chủ. Theo các chuyên gia về công nghệ số và truyền thông, làm chủ nền tảng là điều kiện quan trọng để làm chủ không gian số, chủ động phân phối nội dung, kết nối cộng đồng và lan tỏa các giá trị văn hóa Việt Nam.

Thực tế, năm 2019, doanh nghiệp Việt Nam đã ra mắt ứng dụng mạng xã hội Lotus với định hướng lấy nội dung làm trung tâm, hướng đến người dùng trong nước, kết nối các cơ quan báo chí, nhà sáng tạo nội dung, chuyên gia và người có ảnh hưởng nhằm xây dựng môi trường thông tin chất lượng.

Cùng với Gapo, dù không thành công như kỳ vọng, những dự án này đã thể hiện khát vọng xây dựng mạng xã hội “Make in Vietnam”, làm chủ công nghệ và không gian số của doanh nghiệp Việt Nam. Từ những thử nghiệm này có thể thấy, để hình thành một nền tảng có khả năng cạnh tranh cần chiến lược dài hạn, nguồn lực đủ mạnh và sản phẩm đáp ứng đúng nhu cầu người dùng.

Mới đây, Chính phủ ban hành Nghị định số 277/2026/NĐ-CP ngày 9/7/2026 về hạ tầng văn hóa số, tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp công nghệ đầu tư phát triển các nền tảng số phục vụ lĩnh vực văn hóa. Doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu, phát triển công nghệ số, sản phẩm công nghệ số cùng các sản phẩm, dịch vụ văn hóa số được hưởng các chính sách ưu đãi, hỗ trợ khi đáp ứng các tiêu chí tương ứng theo quy định của pháp luật.

Đây cũng là thời điểm thuận lợi để doanh nghiệp công nghệ, các nhóm khởi nghiệp và đội ngũ kỹ sư Việt Nam đầu tư xây dựng các nền tảng mạng xã hội do người Việt làm chủ, lấy nhu cầu của người dùng trong nước và các giá trị văn hóa Việt Nam làm trung tâm.

Những nền tảng này vừa tạo không gian chia sẻ nội dung, kết nối cộng đồng và lan tỏa các giá trị văn hóa, vừa có thể trở thành kênh phân phối nội dung số, hỗ trợ các ngành công nghiệp văn hóa tiếp cận công chúng trên môi trường số. Sự đồng hành giữa Nhà nước, doanh nghiệp và các chủ thể sáng tạo sẽ tạo động lực hình thành hệ sinh thái số mang bản sắc Việt Nam, đáp ứng nhu cầu của người dùng trong nước.

Mỗi nền tảng do doanh nghiệp trong nước đầu tư sẽ góp thêm một “không gian Việt” trên môi trường số, để người Việt kết nối, sáng tạo, chia sẻ nội dung và lan tỏa các giá trị văn hóa, góp phần bảo đảm chủ quyền văn hóa trong kỷ nguyên số, hình thành hệ sinh thái số mang bản sắc Việt Nam.

PHƯƠNG LINH

Các chương trình mang đậm bản sắc văn hóa luôn thu hút đông đảo người xem trên nền tảng số. (Ảnh: KHÁNH AN)


16/08/2026

Tạo xung lực mới nâng tầm quan hệ giữa Việt Nam với Australia và New Zealand

Tác giả: ĐOÀN CA (lược ghi)

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm vừa kết thúc thành công chuyến thăm cấp nhà nước tới Australia và New Zealand. Nhân dịp này, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung đã trả lời phỏng vấn báo chí về kết quả chuyến thăm. Báo Quân đội nhân dân trân trọng giới thiệu với bạn đọc.

Phóng viên (PV): Đề nghị Bộ trưởng cho biết những kết quả nổi bật của chuyến thăm?

Bộ trưởng Lê Hoài Trung: Nhận lời mời của Toàn quyền Australia Sam Mostyn và Toàn quyền New Zealand Cindy Kiro, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã thăm cấp nhà nước tới Australia và New Zealand từ ngày 9 đến 14-8. Đây là chuyến thăm đầu tiên của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới hai nước trên cương vị mới, diễn ra vào thời điểm quan trọng trong bối cảnh quan hệ Việt Nam-Australia và Việt Nam-New Zealand đều đã được nâng lên đối tác chiến lược toàn diện và đang phát triển hết sức mạnh mẽ. Chuyến thăm khẳng định sự coi trọng cao của Đảng và Nhà nước ta đối với hai đối tác quan trọng này, đồng thời tạo xung lực đưa các khuôn khổ quan hệ mới đi vào chiều sâu, thực chất và hiệu quả theo hướng đồng hành, đồng hợp tác, đồng kiến tạo.

Chuyến thăm đã thành công rất tốt đẹp với các mục tiêu đề ra đạt được ở mức cao. Điểm nổi bật trước hết là chuyến thăm đã củng cố mạnh mẽ tin cậy chính trị và tạo xung lực mới để nâng tầm quan hệ với cả Australia và New Zealand. Bên cạnh chính trị-ngoại giao, kinh tế-thương mại-đầu tư, lãnh đạo Việt Nam và hai nước cam kết tiếp tục tăng cường hợp tác quốc phòng, an ninh, đóng góp cho hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực. Những đề xuất của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về những động lực mới trong quan hệ đều được lãnh đạo hai nước nhất trí rất cao, đó là khoa học-công nghệ (KHCN), đổi mới sáng tạo (ĐMST), giáo dục-đào tạo, nguồn nhân lực, thương mại, đầu tư và chuyển đổi xanh, khoáng sản thiết yếu, nông nghiệp công nghệ cao, kinh tế biển, góp phần mở rộng không gian chiến lược, tranh thủ nguồn lực bên ngoài phục vụ phát triển đất nước và đưa quan hệ Việt Nam với Australia, New Zealand bước vào giai đoạn phát triển sâu sắc, thực chất và hiệu quả hơn, tăng cường sự tin cậy và hiểu biết lẫn nhau.

Những kết quả nổi bật của chuyến thăm cũng đã gắn kết chặt chẽ hơn hợp tác đối ngoại với các yêu cầu phát triển của đất nước. Việt Nam đang đẩy mạnh đổi mới mô hình tăng trưởng, KHCN, ĐMST, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; đây cũng là những lĩnh vực Australia, New Zealand có thế mạnh và khả năng bổ trợ cao. Với Australia, hai bên thúc đẩy hợp tác về trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn, chuyển đổi số, khoáng sản thiết yếu, chuyển đổi năng lượng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Với New Zealand, điểm nhấn là phát huy mạnh hơn tính bổ trợ và những thế mạnh có tính nền tảng, nhất là giáo dục-đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, nông nghiệp công nghệ cao và phát triển bền vững.

Một kết quả quan trọng xuyên suốt chuyến thăm là hợp tác kinh tế được đặt trong một tầm nhìn mới, không chỉ mở rộng thương mại, đầu tư mà còn tăng cường liên kết chuỗi cung ứng, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và khai thác tốt hơn tính bổ trợ giữa các nền kinh tế. Trong bối cảnh Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng các nhà lãnh đạo hai nước nhất trí khuyến khích doanh nghiệp mỗi bên tăng cường hợp tác, đầu tư vào nhau, nhất là trong các ngành, lĩnh vực mới phù hợp với điều kiện mỗi bên, qua đó góp phần mở rộng không gian kinh tế và chiến lược của Việt Nam tại khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, đồng thời kiến tạo không gian phát triển mới cho đất nước.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dành sự quan tâm đặc biệt tới cộng đồng người Việt Nam tại Australia và New Zealand, nhất là đội ngũ trí thức, chuyên gia, doanh nhân. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã gặp gỡ, lắng nghe và trao đổi với đại diện cộng đồng, qua đó khẳng định cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của dân tộc và là nguồn lực quan trọng cho sự phát triển đất nước.

Có thể khẳng định, chuyến thăm đã tạo được cả “độ sâu” về chính trị và “độ mở” về hợp tác. Chuyến thăm là một dấu ấn đối ngoại quan trọng, góp phần triển khai đường lối đối ngoại của Đại hội XIV của Đảng, khẳng định chính sách đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa nhất quán của Việt Nam, củng cố cục diện đối ngoại thuận lợi, mở rộng không gian hợp tác và nâng cao vai trò, vị thế của Việt Nam ở khu vực.

PV: Đề nghị Bộ trưởng cho biết thời gian tới, chúng ta sẽ làm gì để phát huy các kết quả đã đạt được trong chuyến thăm?

Bộ trưởng Lê Hoài Trung: Về chính trị, ngoại giao, trong giai đoạn phát triển mới của mỗi bên, các nhà lãnh đạo đều khẳng định sự tin cậy chính trị giữa Việt Nam và Australia, New Zealand, qua đó tạo xung lực mới để nâng tầm quan hệ. Chính vì vậy, trong thời gian tới, hai bên sẽ đẩy mạnh các trao đổi cấp cao và các cấp, trên cả các kênh Đảng, Quốc hội, qua đó mở ra giai đoạn phát triển mới trong quan hệ song phương. Phía Australia và New Zealand bày tỏ mong muốn tìm hiểu, trao đổi kinh nghiệm về quá trình xây dựng và hoàn thiện thể chế của Việt Nam trong quá trình phát triển đất nước, đặc biệt là vai trò quan trọng của Quốc hội trong việc ban hành các chính sách pháp luật. Lãnh đạo Quốc hội hai nước cũng đánh giá cao vai trò của Quốc hội Việt Nam trên trường quốc tế, đồng thời khẳng định sẽ hợp tác chặt chẽ với Quốc hội Việt Nam trong thời gian tới.

Qua chuyến thăm cấp nhà nước đến Australia và New Zealand của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, 62 văn kiện, thỏa thuận hợp tác đã được ký kết, trong đó có 3 tuyên bố chung quan trọng giữa Việt Nam và Australia về làm sâu sắc quan hệ đối tác chiến lược toàn diện, nâng cao khả năng chống chịu và thích ứng của nền kinh tế, tăng cường kết nối KHCN, ĐMST, tạo thêm những định hướng chiến lược và khuôn khổ hợp tác thiết thực cho giai đoạn mới. Đây cũng là lần đầu tiên Việt Nam cùng một nước đối tác ra tuyên bố chung về tăng cường kết nối KHCN, ĐMST, mở ra mô hình mới về khuôn khổ hợp tác giữa Việt Nam với các đối tác, đặc biệt là theo hướng không chỉ hợp tác mà còn kết nối, bổ sung cho nhau, đồng hành, kiến tạo, tạo các động lực mới; nâng từ chuyển giao sang hợp tác, đồng phát triển KHCN, ĐMST, khai thác khoáng sản hiếm, năng lượng tái tạo, nông nghiệp công nghệ cao, nhân lực chất lượng cao để phục vụ nhu cầu phát triển của mỗi nước. Ngay trong chuyến thăm, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chỉ đạo sát sao việc triển khai các kết quả đạt được. Các nhà lãnh đạo cũng nhấn mạnh yêu cầu chuyển nhanh các cam kết thành hành động, khai thác tối đa dư địa và thế mạnh bổ trợ của mỗi bên.

Với Australia, cần nhanh chóng đưa các định hướng mới về KHCN, ĐMST, AI, bán dẫn, chuyển đổi số, khoáng sản thiết yếu, năng lượng và chuyển đổi xanh vào các chương trình, dự án cụ thể; tăng cường liên kết giữa Chính phủ, doanh nghiệp, trường đại học và viện nghiên cứu, chuyển từ hợp tác tiếp nhận sang cùng nghiên cứu, cùng phát triển, cùng tạo giá trị. Đồng thời, chủ động tháo gỡ các điểm nghẽn về thương mại, đầu tư, kết nối thị trường, logistics và chuỗi cung ứng, tạo điều kiện để doanh nghiệp hai nước tham gia sâu hơn vào các dự án cụ thể.

Với New Zealand, cần khai thác mạnh hơn tính bổ trợ giữa hai nền kinh tế, tập trung vào giáo dục-đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, nông nghiệp công nghệ cao, mở cửa thị trường nông sản, KHCN, ĐMST, chuyển đổi xanh và phát triển bền vững; tăng cường kết nối doanh nghiệp, mở rộng thị trường và thúc đẩy các dự án có giá trị gia tăng cao.

Trên bình diện đa phương, Việt Nam cũng sẽ đẩy mạnh tham vấn chiến lược, phối hợp chính sách với Australia và New Zealand ở cấp cao và các cấp, cũng như tại ASEAN, Liên hợp quốc, APEC và các diễn đàn khu vực, quốc tế; cùng thúc đẩy đối thoại, xây dựng lòng tin, tôn trọng luật pháp quốc tế và đóng góp vào hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực cũng như trên thế giới.

PV: Trân trọng cảm ơn Bộ trưởng!

Báo QĐND

Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung. Ảnh: TRÀ NGUYỄN








16/08/2026
11/08/2026

KẾT LUẬN CỦA TỔNG BÍ THƯ, CHỦ TỊCH NƯỚC TÔ LÂM VỀ TỔNG KẾT THỰC TIỄN VÀ NGHIÊN CỨU SỬA ĐỔI, BỔ SUNG ĐIỀU LỆ ĐẢNG

Văn phòng Trung ương Đảng vừa ban hành Thông báo số 140-TB/VPTW ngày 8/8/2026 thông báo Kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo tại Kỳ họp thứ nhất Ban Chỉ đạo Trung ương về tổng kết thực tiễn và nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng.

Nội dung Thông báo số 140-TB/VPTW như sau:

Ngày 5/8/2026, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Ban Chỉ đạo Trung ương về tổng kết thực tiễn và nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng (sau đây gọi là Ban Chỉ đạo) tổ chức Kỳ họp thứ nhất do đồng chí Tô Lâm, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Trưởng Ban Chỉ đạo chủ trì. Tham dự có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Trung ương Đảng, các đồng chí Ủy viên Ban Chỉ đạo, đại diện lãnh đạo một số ban, bộ, ngành Trung ương là thành viên Tổ Biên tập.

Sau khi nghe Ban Tổ chức Trung ương - Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo báo cáo và ý kiến phát biểu của các đại biểu, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Trưởng Ban Chỉ đạo kết luận như sau:

11/08/2026

“Ở đâu có học sinh, ở đó có giáo viên”

Bộ Giáo dục và Đào tạo yêu cầu các địa phương bảo đảm đủ giáo viên sau sắp xếp trường học, đáp ứng nhiệm vụ năm học 2026-2027.

📌 Tiếp tục tuyển dụng, tiếp nhận nhà giáo và nhân sự hỗ trợ giáo dục theo nhu cầu vị trí việc làm.
📌 Linh hoạt điều động, thuyên chuyển, biệt phái, dạy liên trường để khắc phục tình trạng thiếu giáo viên.
📌 Không để giáo viên phải kiêm nhiệm các vị trí hỗ trợ giáo dục do thiếu nhân sự.
📌 Bảo đảm đầy đủ quyền lợi, chế độ, chính sách đối với đội ngũ nhà giáo trong quá trình sắp xếp.

🔗 Link bài viết ở bình luận đầu tiên.

11/08/2026
11/08/2026
11/08/2026

Phê phán luận điệu xuyên tạc “Đảng Cộng sản Việt Nam không vì lợi ích quốc gia, dân tộc”

Tiến sĩ ĐẶNG VIẾT ĐẠT, Phó tổng biên tập Tạp chí Thông tin khoa học chính trị, Học viện Chính trị khu vực IV

Vai trò lãnh đạo của Đảng được kiểm nghiệm bởi quá trình lịch sử lâu dài, đầy khó khăn, thách thức và sàng lọc nghiệt ngã mà ở bất cứ nơi đâu, bất cứ lúc nào, những người cộng sản luôn thể hiện tính tiền phong, gương mẫu, sẵn sàng gánh vác mọi gian khổ, kể cả chấp nhận hy sinh xương máu để thực hiện thành công sứ mệnh thiêng liêng, trách nhiệm cao cả, hết lòng vì nước, vì dân.

Luận điệu phi khoa học, phi lịch sử và thiếu thiện chí

Trong dòng chảy thông tin hiện nay, nhất là trên không gian mạng, có những luận điệu các thế lực thù địch, cơ hội chính trị và phần tử bất mãn thường xuyên tung ra không nhằm tranh luận học thuật mà gieo rắc sự nghi ngờ, phủ nhận lịch sử, chia rẽ niềm tin và làm suy yếu khối đại đoàn kết dân tộc.

Một trong những luận điệu được các đối tượng rêu rao là: “Đảng Cộng sản Việt Nam không vì lợi ích quốc gia, dân tộc”. Đây là sự xuyên tạc có chủ đích, nhằm tách Đảng khỏi dân tộc, đối lập Đảng với nhân dân, phủ nhận thành quả cách mạng, làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào Đảng, vào chế độ xã hội chủ nghĩa, từ đó phủ định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Bản chất của luận điệu này là đánh tráo khái niệm giữa việc phê bình hạn chế, khuyết điểm trong quá trình lãnh đạo, quản lý với việc phủ nhận bản chất, mục tiêu và vai trò lịch sử của Đảng. Trong bất kỳ quốc gia nào, quá trình phát triển cũng có khó khăn, hạn chế, thậm chí có sai phạm của một bộ phận cán bộ ở một thời điểm nào đó. Nhưng lấy hạn chế cục bộ để phủ định toàn bộ con đường phát triển của đất nước là thủ pháp phi khoa học, phi lịch sử và thiếu thiện chí.

“Đảng Cộng sản Việt Nam vì lợi ích, quốc gia dân tộc” là có cơ sở lịch sử, pháp lý và thực tiễn

“Lợi ích quốc gia, dân tộc” không phải là khái niệm trừu tượng. Đó là độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; là quyền làm chủ của nhân dân; là hòa bình, ổn định để phát triển; là đời sống vật chất, tinh thần của người dân ngày càng được nâng lên; là vị thế đất nước ngày càng được củng cố trên trường quốc tế. Xét trên những tiêu chí ấy, sự ra đời, lãnh đạo và cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam luôn gắn chặt với vận mệnh quốc gia, dân tộc.

Nhìn từ lịch sử, trong tiến trình cách mạng Việt Nam từ năm 1930 đến nay, không thể tách vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam khỏi các mốc lớn của dân tộc: Giành độc lập, thống nhất đất nước, tiến hành công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế và xây dựng đất nước trong điều kiện hòa bình. Thực tiễn đó chứng minh rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời trong bối cảnh dân tộc mất độc lập, nhân dân chịu ách áp bức của chủ nghĩa thực dân.

Sứ mệnh lịch sử của Đảng ngay từ đầu là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Sự thật nước Việt Nam đã là nước độc lập, dân tộc Việt Nam đã được hưởng quyền tự do và hạnh phúc. Nếu Đảng không vì lợi ích quốc gia, dân tộc thì làm sao có thể quy tụ được sức mạnh của hàng triệu người Việt Nam trong các cuộc đấu tranh trường kỳ? Nếu Đảng đứng ngoài lợi ích dân tộc, thì làm sao có thể lãnh đạo nhân dân đi qua những thử thách sinh tử của chiến tranh, đói nghèo, bao vây cấm vận, khủng hoảng kinh tế-xã hội để từng bước xây dựng một quốc gia độc lập, thống nhất, có vị thế ngày càng cao trên trường quốc tế?

Địa vị lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam không phải là ý chí chủ quan của một cá nhân hay của một lực lượng chính trị nào mà đó là kết quả của quá trình thử thách khắc nghiệt của lịch sử, là sự lựa chọn của dân tộc Việt Nam. Vai trò lãnh đạo của Đảng được kiểm nghiệm bởi quá trình lịch sử lâu dài, đầy khó khăn và sàng lọc nghiệt ngã mà bất cứ nơi đâu, bất cứ lúc nào, những người cộng sản luôn thể hiện tính tiền phong, gương mẫu, sẵn sàng gánh vác mọi gian khổ, kể cả chấp nhận hy sinh xương máu để thực hiện thành công sứ mệnh thiêng liêng, trách nhiệm cao cả, hết lòng vì nước, vì dân.

Thực tiễn lãnh đạo cách mạng Việt Nam đã tôi luyện Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ năng lực trí tuệ, bản lĩnh, đạo đức, uy tín để lãnh đạo nhân dân thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và xây dựng đất nước hùng cường, nhân dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc.

Về cơ sở pháp lý, Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) hiến định Đảng Cộng sản Việt Nam là “lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”; đồng thời nêu rõ “Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình” và “Các tổ chức Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật” (Điều 4). Điều này xác lập cơ sở pháp lý vững chắc về vai trò lãnh đạo của Đảng với vận mệnh của quốc gia, dân tộc Việt Nam.

Đảng lãnh đạo đất nước nhưng không đứng ngoài quốc gia, không đứng trên nhân dân mà quan hệ mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân và chịu sự ràng buộc của pháp luật. Cũng trong Hiến pháp, đường lối đối ngoại của Việt Nam được xác định là “độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập, hợp tác quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi; tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế vì lợi ích quốc gia, dân tộc, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới” (Điều 12). Như vậy, lợi ích quốc gia, dân tộc không chỉ là một tuyên ngôn chính trị mà đã trở thành nguyên tắc hiến định trong tổ chức và vận hành chính sách đối ngoại của Nhà nước Việt Nam.

Nhìn từ thực tiễn phát triển, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã giành được độc lập, tự do; hoàn thành mục tiêu cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đưa đất nước từng bước phát triển theo mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đặc biệt, thành tựu phát triển kinh tế-xã hội trong công cuộc đổi mới là minh chứng nổi bật cho việc Đảng đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết. Đổi mới không phải là sự thay đổi tùy hứng mà là quyết sách có ý nghĩa lịch sử, xuất phát từ yêu cầu sống còn của đất nước và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Nhờ đổi mới, Việt Nam từ một nền kinh tế nghèo nàn, bị bao vây, cấm vận, từng bước trở thành nền kinh tế năng động, hội nhập sâu rộng với thế giới.

Vào thời điểm Việt Nam bước vào thời kỳ đổi mới đạt mức thu nhập bình quân đầu người khoảng 200 USD/năm và xếp trong nhóm 20 nước nghèo nhất thế giới. 40 năm sau, Việt Nam đạt thu nhập bình quân 5.026 USD/người/năm; tỷ lệ hộ nghèo đa chiều còn 1,3%. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2025 đạt trên 514 tỷ USD, gấp 1,48 lần năm 2020; chỉ số hạnh phúc năm 2025 xếp thứ 46/143 quốc gia, tăng 33 bậc so với năm 2021. So với mốc đổi mới từ năm 1986, GDP Việt Nam tăng từ 4,5 tỷ USD lên trên 514 tỷ USD, tăng hơn 114 lần; GDP bình quân đầu người từ 74 USD lên 5.026 USD, tăng gần 68 lần. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội có nhiều tiến bộ, đời sống nhân dân được cải thiện căn bản và toàn diện. Chỉ số phát triển con người (HDI) đạt 0,766 điểm, thuộc nhóm nước phát triển con người cao.

Những con số đó có ý nghĩa chính trị-xã hội sâu sắc. Tăng trưởng kinh tế không chỉ là câu chuyện GDP mà là bảo đảm an ninh lương thực, việc làm, trường học, bệnh viện, đường sá, điện lưới, internet, nhà ở, sinh kế và cơ hội vươn lên của mỗi người dân. Một đường lối lãnh đạo không vì lợi ích quốc gia, dân tộc thì không thể tạo ra sự chuyển biến sâu rộng như vậy. Một thể chế không đặt con người ở vị trí trung tâm thì không thể đưa hàng triệu người thoát nghèo, mở rộng tiếp cận giáo dục, y tế, dịch vụ công và cơ hội hội nhập.

Tất nhiên, thực tiễn Việt Nam vẫn còn những hạn chế, bất cập cần tiếp tục hoàn thiện. Đây là quy luật tất yếu của mọi sự phát triển, bởi không có trạng thái phát triển nào hoàn hảo tuyệt đối. Trong bối cảnh phát triển mới, để bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc đòi hỏi Việt Nam phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ hơn, phát triển nhanh và bền vững hơn, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiệu quả hơn, phòng chống tham nhũng quyết liệt hơn, hội nhập quốc tế sâu rộng hơn, chăm lo đời sống nhân dân thiết thực hơn. Đó cũng là con đường để củng cố niềm tin của nhân dân, làm thất bại mọi âm mưu chia rẽ Đảng với dân tộc, Nhà nước với nhân dân.

Nhìn tổng thể, luận điệu “Đảng Cộng sản Việt Nam không vì lợi ích quốc gia, dân tộc” là sự xuyên tạc cả về lịch sử, pháp lý và thực tiễn. Đấu tranh phản bác luận điệu sai trái này không chỉ là nhiệm vụ của các cơ quan chức năng mà còn là trách nhiệm chính trị, trách nhiệm công dân của mỗi người Việt Nam yêu nước. Lòng yêu nước của mỗi người dân Việt Nam hôm nay được thể hiện ở bản lĩnh nhận diện phải-trái, đúng-sai, là thái độ tỉnh táo trước thông tin xuyên tạc, là hành động xây dựng đất nước bằng trách nhiệm lao động, học tập, cống hiến và bảo vệ sự thật. Sự thật ấy là: Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời từ yêu cầu của lịch sử dân tộc, tồn tại trong lòng nhân dân, lãnh đạo vì mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, hạnh phúc.

Báo QĐND

Ảnh minh họa: VGP


11/08/2026
11/08/2026

Address

Đường Trảng Bom
Trang Bom

Opening Hours

Monday 07:00 - 00:00
Tuesday 07:00 - 00:00
Wednesday 07:00 - 00:00
Thursday 07:00 - 00:00
Friday 07:00 - 00:00
Saturday 07:00 - 00:00
Sunday 07:00 - 00:00

Telephone

0944739226

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Thanh niên xã Bàu Hàm posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Business

Send a message to Thanh niên xã Bàu Hàm:

Shortcuts

Share