24/08/2026
CHUYỂN HOÁ NĂNG LƯỢNG - ĐIỀU HOÀ THÂN NHIỆT
HẤP THU NĂNG LƯỢNG
Các loại thức ăn đều chứa 6 chất dinh dưỡng là protit, gluxit, lipit, vitamin, muối khoáng và nước. Trong đó có protit ( protein ), gluxit ( carbohydrate) và lipit ( chất béo ) là chất cung cấp năng lượng cho cơ thể. Giá trị năng lượng của mỗi loại thức ăn phụ thuộc vào hàm lượng các chất sinh năng lượng trong đó.
Các chất dinh dưỡng được máu hấp thụ và vận chuyển đến tế bào. Các chất này tham gia vào các phản ứng chuyển hoá chất phức tạp, cuối cùng chúng được chuyển hoá thành các hợp chất giàu năng lượng, trước hết là của adenozin triphotphat (ATP). Năng lượng cung cấp cho hoạt động là sản phẩm của sự phân giải ATP.
TIÊU HAO NĂNG LƯỢNG
Việc tiêu hao năng lượng trong cơ thể có thể chia làm 2 nhóm: chuyển hoá cơ sở và tiêu hao năng lượng bổ sung.
* Chuyển hoá cơ sở:
Là mức chuyển hoá năng lượng của cơ thể đảm bảo trương lực cơ và hoạt động của các hệ thống (hô hấp, tim - mạch, thận, gan, não) ở mức tối thiểu.
* Tiêu hao năng lượng bổ sung:
Năng lượng bổ sung là số năng lượng cơ thể phải sử dụng thêm (so với mức cơ sở) để hoàn thành bất kỳ một hoạt động sống nào. Năng lượng bổ sung chủ yếu được sử dụng vào các hoạt động sau:
– Tiêu hoá: Tiêu hoá thức ăn cũng là một hoạt động tiêu hao năng lượng, của protit là 30%; lipit 14%, gluxit 6%.
– Duy trì tư thế và điều nhiệt: Khi nhiệt độ ở môi trường xung quanh thấp, mức tiêu hao năng lượng có thể tăng lên 2 -3 lần. Trong tư thế ngồi, tăng 5 - 15%, còn ở tư thế đứng tăng 15- 30% so với tư thế nằm.
– Vận cơ: Trong vận động cơ bắp, hoá năng tích lũy trong cơ bị tiêu hao, 25% chuyển thành công cơ học, 75% còn lại toả ra dưới dạng nhiệt.
* Quá trình sinh nhiệt:
Trong co cơ 70-75% năng lượng của các chất tham gia các phản ứng hoá học bị biến thành nhiệt. Cơ là nơi sinh nhiệt chủ yếu, có thể chiếm tới 95% tổng nhiệt sinh ra trong cơ thể. Một nguồn sinh nhiệt nữa có thể làm tăng thân nhiệt là nhiệt năng truyền từ những vật có nhiệt độ cao hơn thân nhiệt như không khí nóng, vật nóng.
* Quá trình thải nhiệt: Nhiệt lượng sinh ra bên trong cơ thể được thải ra liên tục vào môi trường xung quanh nhằm duy trì thân nhiệt ổn định. Bằng cách cuộn người làm cho bề mặt tiếp xúc giảm đến 55%, cơ thể có khả năng giữ được nhiệt trong điều kiện rất lạnh. Vật có màu đen hấp thụ toàn bộ nhiệt lượng bức xạ tới, vật có màu trắng phản chiếu toàn bộ lượng nhiệt đó. Đây là cơ sở để thay đổi màu sắc quần áo tùy theo yêu cầu điều nhiệt của cơ thể.
* Thải nhiệt bằng bay hơi nước:
Nước bay hơi ở da dưới hai dạng là thấm nước qua da và bài tiết mồ hôi. Mồ hôi chỉ giúp cho cơ thể thải nhiệt khi bay hơi trên da. Nếu lượng mồ hôi này không bay hơi mà chỉ chảy trên bề mặt da thì không xảy ra hiện tượng giảm thân nhiệt.
* Thân nhiệt
Thân nhiệt là nhiệt độ của cơ thể. Các cơ quan nằm sâu bên trong và có cường độ sản nhiệt lớn như gan, tim, não và các phủ tạng có nhiệt độ cao hơn; nhưng khi hoạt động thì các cơ lại có nhiệt độ cao nhất. Lớp ngoài của các tổ chức, tiêu biểu là da, có nhiệt độ thấp nhất trong cơ thể.
– Thân nhiệt trung tâm: đo được ở những vùng sâu trong cơ thể, là nhiệt độ ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ của các phản ứng sinh học của cơ thể. Vì vậy sự điều nhiệt có xu hướng giữ cho thân nhiệt trung tâm luôn ổn định. Thân nhiệt trung tâm thường được đo ở trực tràng, nhiệt độ đo ở đây ổn định nhất, chỉ dao động từ 36,3 - 37,1°C.
– Thân nhiệt ngoại vi: đo ở da, nó cũng thay đổi theo vị trí đo, ở trán khoảng 33,5°C; ở lòng bàn tay 32°C; ở mu bàn chân 28°C. Thân nhiệt ngoại vi chịu ảnh hưởng rất mạnh của môi trường bên ngoài.
Thân nhiệt chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố. Tuổi càng cao thì thân nhiệt càng giảm. Nhịp ngày đêm cũng ảnh hưởng đến thân nhiệt, thân nhiệt thấp nhất vào lúc 3 - 6 giờ sáng và cao nhất lúc 14 - 17 giờ. Ở phụ nữ, thân nhiệt tăng 0,3 - 0,5°C trong nửa sau của chu kỳ kinh nguyệt. Khi có thai, vào tháng cuối thân nhiệt có thể tăng lên 0,5 - 0,8°C. Thân nhiệt còn thay đổi theo tình trạng sức khoẻ. Trong các bệnh nhiễm khuẩn nói chung thân nhiệt tăng lên; trong một số bệnh, ví dụ như bệnh tả thân nhiệt giảm.
* Thân nhiệt trong hoạt động thể lực: Sự tăng nhiệt, một mặt là kết quả của hoạt động, nhưng mặt khác, nó cũng có tác dụng đảm bảo cho các phản ứng sinh hoá xảy ra thuận lợi hơn, làm cho cơ thể nhanh chóng thích nghi với điều kiện vận động.
Sự tăng thân nhiệt trung tâm và giảm thân nhiệt ngoại vi đã làm tăng độ chênh lệch về nhiệt độ giữa bên trong và bề mặt cơ thể, vì vậy sự thải nhiệt xảy ra dễ dàng hơn. Thân nhiệt tăng lên vừa phải trong hoạt động thể lực có ảnh hưởng thuận lợi đối với quá trình hưng phấn trong các trung tâm thần kinh và trong cơ. Tính dẫn truyền và linh hoạt của thần kinh tăng lên, độ nhớt của máu giảm.
Vì vậy việc làm nóng cơ thể bằng khởi động được coi là một biện pháp làm tăng khả năng hoạt động thể lực và thúc đẩy quá trình thích nghi với trạng thái vận động. Tuy nhiên thân nhiệt tăng quá mức có thể gây những ảnh hưởng xấu tới khả năng hoạt động thể lực.