01/08/2022
- Các acid béo omega-3
Mức acid béo không no omega-3 (n-3 polyunsaturated fatty acids hay n-3 PUFA) trong huyết thanh ở bệnh nhân vảy nến có tương quan nghịch với chỉ số diện tích và mức độ bệnh vảy nến (PASI). Các báo cáo chỉ ra rằng n-3 PUFAs ức chế sự phát triển của Th17, và giảm sự biểu hiện của IL-23, IL-17A, IL-17F, IL-22, và TNF-α trong các tổn thương, do đó cải thiện tình trạng bệnh.
Các loại dầu cá có nhiều acid béo omega-3 có thể sử dụng là: cá hồi tươi, cá mòi và cá thu.
Ngoài ra, dầu hạt hướng dương và dầu mè cũng chứa nhiều acid béo omega-3.
- Carbohydrate phức tạp
Chất xơ đại diện cho carbohydrate phức tạp không bị tiêu hóa ở ruột non và trải qua các mức độ lên men khác nhau ở ruột già. Tinh bột có nhiều trong ngũ cốc hoặc các loại đậu, và có khả năng lên men cao. Việc bổ sung chất xơ trong chế độ ăn uống được báo cáo cho thấy tác dụng chống viêm toàn thân và đường ruột. Việc hấp thụ chất xơ dẫn đến giảm CRP, IL-6, hoặc TNF-α song song với việc giảm trọng lượng cơ thể.
Vì chế độ ăn giàu chất xơ có mật độ năng lượng thấp hơn và béo phì là tình trạng viêm mạn tính ở mức độ thấp, tác dụng chống viêm của chất xơ có thể một phần thông qua việc giảm trọng lượng cơ thể; tuy nhiên, các cơ chế không liên quan đến béo phì cũng được đề xuất.
Chất xơ, đặc biệt là tinh bột được lên men trong ruột già tạo ra acid béo chuỗi ngắn có thể thúc đẩy hoạt động của Tregs trong ruột già và cả trong da thông qua tuần hoàn, dẫn đến việc điều chỉnh quá trình viêm. Ngoài ra, chất xơ cũng góp phần điều chỉnh hệ vi sinh vật đường ruột.
Thực nghiệm trên mô hình chuột vảy nến, chế độ ăn giàu chất xơ làm giảm các tổn thương da dạng vảy nến và giảm triệu chứng gãi.
- Các loại vitamin và khoáng chất
Vitamin D
Ở người, vitamin D được cung cấp thông qua chế độ ăn uống và qua tổng hợp trong da do tiếp xúc với ánh nắng mặt trời. Các nguồn thực phẩm cung cấp vitamin D là:
+ Dầu gan cá,
+ Cá kiếm, cá hồi, cá ngừ, cá mòi,
+ Gan bò,
+ Trứng hoặc pho mát.
Vitamin D là một chất trung gian chính của phản ứng viêm. Vitamin D có tác động trên bạch cầu đơn nhân/ đại thực bào và điều chỉnh giảm việc sản xuất TNF-α, IL-1β, IL-6, hoặc IL-8. Nồng độ vitamin D trong huyết thanh bị giảm ở những bệnh nhân bị bệnh vảy nến so với người bình thường. Một số thử nghiệm bổ sung vitamin D3 đường uống đang được tiến hành để sử dụng trong điều trị bệnh vảy nến.
Vitamin B12
Vitamin B12 có nhiều trong cá/ động vật có vỏ (sò, hàu, ngao, hoặc trứng cá hồi) hoặc gan (bò, lợn, gà). Vitamin B12 có tác dụng bảo vệ các tế bào khỏi các stress oxy hóa do viêm.
Tác dụng của vitamin B12 tại chỗ trên bệnh vảy nến cũng được báo cáo. Tuy nhiên, một thử nghiệm lâm sàng về tiêm bắp vitamin B12 cùng với liệu pháp thông thường không làm tăng hiệu quả điều trị đối với bệnh vảy nến.
Vitamin A
Các nguồn cung cấp vitamin A (retinol) trong chế độ ăn uống là gan, cá, trứng hoặc bơ, tiền vitamin A như beta-carotene, có nhiều trong các rau củ màu xanh lá cây/ vàng như cà rốt hoặc rau bina. Vitamin A trong chế độ ăn uống được hấp thụ trong ruột, chủ yếu được phân phối đến gan, và ở mức độ thấp hơn là thận, mô mỡ hoặc tủy xương.
Sản phẩm chuyển hóa hoạt động của vitamin A là vitamin A acid (RAs). RAs có hiệu quả cao trong điều trị bệnh vảy nến. RAs bình thường hóa quá trình tăng sinh và kích thích biệt hóa tế bào sừng, đồng thời ức chế sản xuất TNF-α và giảm mức mRNA của enzym tổng hợp oxit nitric cảm ứng trong tế bào sừng.
Tuy nhiên, chế độ ăn uống bổ sung vitamin A ở bệnh nhân viêm khớp vảy nến cao hơn ở bệnh nhân vẩy nến không bị viêm khớp trong một nghiên cứu của Nhật Bản. Mối quan hệ giữa lượng vitamin A trong chế độ ăn và sự phát triển hoặc trầm trọng thêm của viêm khớp vảy nến cần được nghiên cứu thêm.
Selenium
Selenium có nhiều trong cá/ động vật có vỏ, trứng, thịt gia cầm hoặc ngũ cốc. Đây là một nguyên tố vi lượng có đặc tính chống oxy hóa và điều hòa miễn dịch. Mặc dù không có nhiều bằng chứng cụ thể về vai trò của vi chất này, các chuyên gia vẫn khuyến cáo nên bổ sung selenium, dựa trên những quan sát cho thấy hàm lượng selenium có xu hướng giảm ở bệnh nhân vảy nến.
Genistein (có trong đậu nành)
Đậu nành được cho là một chất hỗ trợ chống bệnh vảy nến tiềm năng. Isoflavone là phytoestrogen có nhiều trong đậu nành, và genistein là isoflavone chính có hoạt tính chống viêm mạnh.