Đoàn khối Uỷ ban nhân dân tỉnh Ninh Thuận

Đoàn khối Uỷ ban nhân dân tỉnh Ninh Thuận Mạng xã hội của Đoàn Khối Cơ quan - Doanh nghiệp tỉnh Ninh Thuận.

Tuyên truyền các hoạt động của Đoàn Khối, thông tin các nội dung cơ bản của công tác đoàn - phong trào thanh thiếu nhi.

⭐⭐⭐THAY ĐỔI AVATAR HƯỚNG VỀ ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU ĐẢNG BỘ ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA LẦN I, NHIỆM KỲ 2025 - 2030
28/07/2025

⭐⭐⭐THAY ĐỔI AVATAR HƯỚNG VỀ ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU ĐẢNG BỘ ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA LẦN I, NHIỆM KỲ 2025 - 2030

23/07/2025
02/06/2025

Tạm thời bố trí 32 biên chế cho một chính quyền cấp xã:
Ban Chỉ đạo thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính các cấp và xây dựng mô hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp của Chính phủ vừa ban hành Công văn số 09/CV-BCĐ gửi UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về việc định hướng tạm thời bố trí biên chế khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính và tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp.
Cơ bản giữ nguyên số lượng cán bộ, công chức, viên chức, người lao động hợp đồng
Về nguyên tắc quản lý và bố trí biên chế, Ban chỉ đạo xác định việc quản lý, bố trí biên chế bảo đảm phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan, tổ chức, đơn vị; yêu cầu của vị trí việc làm, cải cách hành chính gắn với tinh giản biên chế và cơ cấu lại, nâng cao chất lượng đội ngũ, bảo đảm tinh, gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả.
Trong giai đoạn sắp xếp, sáp nhập đơn vị hành chính các cấp, triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, trước mắt, cơ bản giữ nguyên số lượng cán bộ, công chức, viên chức, người lao động hợp đồng hiện có tại cơ quan, tổ chức, đơn vị để sắp xếp, bố trí công tác tại cơ quan, tổ chức, đơn vị tương ứng hoặc bố trí công tác tại cấp xã. Sau đó, thực hiện tinh giản biên chế gắn với cơ cấu lại, nâng cao chất lượng đội ngũ theo lộ trình, bảo đảm trong thời hạn 5 năm cơ bản số lượng biên chế thực hiện theo đúng quy định.
Trường hợp trong quá trình sắp xếp đơn vị hành chính, tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp, cán bộ, công chức, viên chức có nguyện vọng nghỉ hưu trước tuổi và thôi việc hoặc không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ hoặc không đủ tiêu chuẩn cán bộ, công chức (cấp xã mới) theo quy định của Luật Cán bộ, công chức sửa đổi (đang trình Kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XV thông qua) thì cấp ủy, chính quyền địa phương cho nghỉ theo đúng chính sách của Chính phủ nhằm kết hợp cơ cấu lại và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.
Định hướng bố trí biên chế cán bộ, công chức và viên chức
Về biên chế cán bộ, công chức, tại cấp tỉnh (gồm: Tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương), đối với 11 đơn vị hành chính không thực hiện sáp nhập (theo Nghị quyết số 60-NQ/TW), Ban chỉ đạo định hướng, trên cơ sở biên chế được cấp có thẩm quyền giao giai đoạn 2022-2026 và nhiệm vụ được phân cấp, phân quyền từ Trung ương, chủ động sắp xếp, bố trí cán bộ, công chức bảo đảm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của các cơ quan tham mưu, giúp việc cấp tỉnh. Đồng thời, rà soát, sắp xếp gắn cơ cấu lại và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp tỉnh, bảo đảm hoạt động của chính quyền địa phương 2 cấp liên thông, không gián đoạn, hiệu lực và hiệu quả.
Đối với 23 đơn vị hành chính cấp tỉnh sau sáp nhập, hợp nhất (theo Nghị quyết số 60-NQ/TW), Ban chỉ đạo định hướng, căn cứ nguyên tắc trên có thể kết hợp cơ cấu lại và nâng cao chất lượng đội ngũ theo lộ trình, cơ bản sau 5 năm tổng biên chế bảo đảm đúng quy định của cấp có thẩm quyền giao. Sau sắp xếp ổn định, năm 2026, căn cứ hướng dẫn của cấp có thẩm quyền về tiêu chí xác định biên chế và khung biên chế của các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong hệ thống chính trị, các địa phương sẽ chủ động điều phối, cân đối, quyết định giao biên chế cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc phạm vi quản lý theo thẩm quyền, bảo đảm thực hiện mục tiêu tinh giản biên chế theo quy định.
Tại cấp xã (gồm: Xã, phường, đặc khu trực thuộc tỉnh, thành phố), Ban chỉ đạo xác định, trước mắt, giữ nguyên số lượng biên chế cán bộ, công chức của cấp huyện, cấp xã hiện có để bố trí làm việc tại cấp xã và thực hiện việc rà soát, tinh giản biên chế đối với cán bộ, công chức cấp xã không đủ tiêu chuẩn theo quy định nhằm cơ cấu lại, nâng cao chất lượng đội ngũ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, bảo đảm trong thời hạn 5 năm cơ bản theo đúng quy định của Chính phủ.
Dự kiến định hướng tạm thời về bố trí khung biên chế của một chính quyền cấp xã là khoảng 32 biên chế (không bao gồm biên chế khối đảng, đoàn thể và không bao gồm biên chế của Ban Chỉ huy quân sự cấp xã). Trong đó, lãnh đạo Hội đồng nhân dân gồm 1 Chủ tịch, 1 Phó Chủ tịch (trong đó có 1 chuyên trách), lãnh đạo UBND gồm 1 Chủ tịch, 2 Phó Chủ tịch. Ban của Hội đồng nhân dân (2 ban) gồm 2 Trưởng ban do Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy xã kiêm nhiệm, 2 Phó Trưởng ban chuyên trách và 2 công chức.
Đối với phòng chuyên môn của UBND (3 phòng), mỗi phòng có 2 công chức lãnh đạo, quản lý chuyên trách; 4 công chức/phòng chuyên môn (tổng số 12 biên chế công chức). Trung tâm Phục vụ hành chính công gồm 1 Phó Chủ tịch UBND kiêm Giám đốc Trung tâm phục vụ hành chính công; 1 Phó Giám đốc chuyên trách và 5 công chức (trường hợp thực hiện mô hình Trung tâm hành chính công 1 cấp do cấp tỉnh bố trí người làm việc cho phù hợp).
Tiêu chí xác định biên chế cán bộ, công chức cấp xã, mỗi đơn vị hành chính cấp xã bình quân tạm thời bố trí 32 biên chế/xã. Đối với đơn vị hành chính cấp xã có quy mô dân số từ trên 16.000 dân, xã, phường miền núi, vùng cao, cứ tăng 1.000 dân được bố trí thêm 1 biên chế công chức; đối với xã, phường, đặc khu vùng khác cứ tăng 2.000 dân được bố trí thêm 1 biên chế công chức và bố trí không quá 50 biên chế xã và 70 biên chế/phường, đặc khu. Cấp xã là 1 đơn vị hành chính giữ nguyên (không thực hiện sắp xếp) thì khuyến khích không thành lập phòng chuyên môn thuộc UBND cấp xã.
Đối với Đặc khu Phú Quốc (có diện tích lớn, dân số đông) thì được tổ chức không quá 5 phòng chuyên môn và trước mắt, giữ nguyên số lượng biên chế hiện có. Đồng thời, sau khi cơ quan có thẩm quyền xác định biên chế sau 5 năm thì thực hiện tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ để bảo đảm đúng số lượng quy định.
Trường hợp đơn vị hành chính xã có quy mô dân số lớn từ trên 60.000 dân thì được xem xét tổ chức thêm 1 phòng chuyên môn.
Đối với đơn vị hành chính cấp xã không tổ chức phòng chuyên môn thì được tăng 1 Phó Chủ tịch UBND xã và bố trí chức danh cán bộ, công chức theo vị trí việc làm không quá 25 biên chế/xã (bao gồm cán bộ cấp xã và công chức cấp xã theo quy định của Chính phủ); đồng thời thực hiện điều chỉnh biên chế (so với biên chế tiêu chuẩn 32 biên chế/xã) cho đơn vị hành chính cấp xã khác có quy mô dân số, diện tích tự nhiên lớn, phát triển kinh tế trọng điểm của địa phương.
Ban chỉ đạo giao nhiệm vụ, trong năm 2026, Bộ Nội vụ phối hợp với Ban Tổ chức Trung ương xây dựng khung tiêu chí xác định biên chế; căn cứ vào khung tiêu chí xác định biên chế đối với các xã, phường, đặc khu và tổng số biên chế được cấp có thẩm quyền giao đối với từng địa phương, các địa phương chủ động quyết định việc điều phối, cân đối, quyết định giao biên chế đối với từng đơn vị hành chính cấp xã cho phù hợp với điều kiện, đặc điểm của từng đơn vị hành chính, bảo đảm sau 5 năm sẽ giảm về số biên chế theo quy định của cấp có thẩm quyền.
Về biên chế viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập, Ban chỉ đạo định hướng, trên cơ sở phương án sắp xếp, cơ cấu lại các đơn vị sự nghiệp công lập theo ngành, lĩnh vực tại cấp xã mới theo hướng dẫn của bộ quản lý ngành, lĩnh vực, các địa phương có trách nhiệm bố trí chi tiêu biên chế viên chức hưởng lương từ ngân sách nhà nước trong tổng số biên chế được cấp có thẩm quyền giao, rà soát, cơ cấu lại và nâng cao chất lượng đội ngũ viên chức, thực hiện đẩy mạnh tự chủ đối với đơn vị sự nghiệp công lập theo ngành, lĩnh vực phù hợp với điều kiện, đặc điểm của từng địa bàn.
Trong giai đoạn sắp xếp, sáp nhập và triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, cơ bản giữ nguyên số lượng cán bộ, công chức, viên chức, người lao động hợp đồng hiện có tại cơ quan, tổ chức, đơn vị./.

30/05/2025

Nguyên tắc, định hướng SẮP XẾP ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP Ở ĐỊA PHƯƠNG
Ban Chỉ đạo sắp xếp đơn vị hành chính các cấp và xây dựng mô hình tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp ban hành Công văn 68/CV-BCĐ ngày 28/5/2025 về việc định hướng sắp xếp, tổ chức lại đơn vị sự nghiệp công lập ở địa phương khi thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp.
Công văn 68/CV-BCĐ nêu rõ, thực hiện chủ trương không tổ chức cấp huyện, sáp nhập cấp xã và xây dựng mô hình tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp tại Nghị quyết số 60-NQ/TW ngày 12/4/2025 của Hội nghị Trung ương 11 khóa XIII, Ban Chỉ đạo về tổng kết thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW của Chính phủ đề nghị các Bộ, cơ quan ngang Bộ hướng dẫn phương án sắp xếp, tổ chức lại các đơn vị sự nghiệp công lập ở địa phương khi thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp theo định hướng sau:
Nguyên tắc sắp xếp, tổ chức lại đơn vị sự nghiệp công lập
Thứ nhất, việc sắp xếp, tổ chức lại các đơn vị sự nghiệp công lập ở địa phương khi thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp không làm ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả hoạt động cung ứng dịch vụ sự nghiệp công ở địa phương, đặc biệt là các dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu, phục vụ nhu cầu của người dân.
Thứ hai, đối với dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu, có nhiệm vụ phục vụ người dân, trực tiếp giải quyết các vấn đề của cộng đồng dân cư, thì nghiên cứu giao cấp xã quản lý (như: trường trung học cơ sở, tiểu học, mầm non công lập, y tế cơ sở, văn hóa cơ sở...).
Thứ ba, đối với dịch vụ sự nghiệp công thuộc lĩnh vực kinh tế và các lĩnh vực cần tập trung nguồn lực, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, thì nghiên cứu giao cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý (như: nông nghiệp và môi trường, khoa học và công nghệ, sự nghiệp kinh tế khác....).
Thứ tư, đối với các dịch vụ sự nghiệp công có nguồn thu, có khả năng tự chủ về tài chính (như: quản lý dự án, phát triển quỹ đất, giải phóng mặt bằng) thì có thể giao cấp tỉnh (có cơ sở liên xã) hoặc cấp xã tổ chức quản lý và cung ứng các dịch vụ này để phục vụ người dân, doanh nghiệp.
Định hướng sắp xếp đơn vị sự nghiệp công lập ở địa phương
Một là, đối với các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc lĩnh vực giáo dục và y tế.
Trước mắt, giữ ổn định hệ thống các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc vực giáo dục và y tế tại địa phương, chỉ thực hiện sắp xếp khi thực sự cần thiết và không làm ảnh hưởng đến hoạt động phục vụ nhu cầu thiết yếu của người dân trên địa bàn.
Theo đó, giao cấp xã quản lý các các cơ sở giáo dục (mầm non đến trung học cơ sở và trưởng dân tộc nội trú ở cấp huyện hiện nay).
Đối với Trung tâm Y tế thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện hiện nay sẽ chuyển về Sở Y tế quản lý để tổ chức cung ứng dịch vụ theo khu vực liên xã, phường.
Duy trì các Trạm Y tế xã thuộc Trung tâm Y tế hiện nay hoặc sắp xếp các Trạm Y tế tại cấp xã cũ thành 01 Trạm Y tế tại cấp xã mới và có các điểm Y tế tại các xã cũ để phục vụ người dân.
Hai là, đối với các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, khoa học và công nghệ, sự nghiệp kinh tế khác (bao gồm Trung tâm Dịch vụ nông nghiệp ở cấp huyện hiện nay).
Nghiên cứu sắp xếp thu gọn đầu mối giao cấp tỉnh quản lý và có hệ thống mạng lưới cung ứng dịch vụ sự nghiệp công theo khu vực liên xã, phù hợp với điều kiện, đặc điểm từng địa bàn.
Ba là, đối với các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc lĩnh vực quản lý dự án, phát triển quỹ đất, giải phóng mặt bằng, quản lý chợ, bến xe.
Các địa phương căn cứ điều kiện, đặc điểm và khả năng bảo đảm tự cân đối nguồn thu của các hoạt động cung ứng dịch vụ sự nghiệp công để thành lập đơn vị sự nghiệp công lập ở cấp tỉnh (có cơ sở liên xã) hoặc cấp xã, bảo đảm các đơn vị sự nghiệp công lập khi được thành lập sẽ tự bảo đảm chi thường xuyên và thực hiện chức năng cung ứng dịch vụ sự nghiệp công thuộc các lĩnh vực này trên địa bàn.
Bốn là, đối với các đơn vị sự nghiệp công lập khác.
Đài Phát thanh - Truyền hình huyện được tổ chức lại thành đơn vị trực thuộc cơ quan Truyền thông đa phương tiện hoặc Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh, thực hiện chức năng cung ứng dịch vụ sự nghiệp truyền thông trên địa bàn khu vực liên xã
Các Trung tâm Văn hóa hoặc Trung tâm Văn hóa, Thể thao, Nhà Thiếu nhi... ở cấp huyện hiện nay được chuyển về cấp xã quản lý (nơi đặt trụ sở chính của các đơn vị này), thực hiện chức năng cung ứng dịch vụ sự nghiệp văn hóa, thể thao trên địa bàn xã, khu vực liên xã và các dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu trên địa bàn xã.
Các đơn vị hành chính cấp xã mới được thành lập 01 đơn vị sự nghiệp công lập để cung ứng các dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu trên địa bàn xã (trừ các xã đã có Trung tâm Văn hóa hoặc Trung tâm Văn hóa, Thể thao, Nhà Thiếu nhi... ở cấp huyện hiện nay đang đặt trụ sở chính tại xã mới).
Hướng dẫn sắp xếp, tổ chức lại mạng lưới đơn vị sự nghiệp, hoàn thành trước 15/6
Về tổ chức thực hiện, Ban Chỉ đạo yêu cầu các bộ, cơ quan ngang bộ ban hành Thông tư hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý đối với cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, cấp xã phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp, hoàn thành trước 15/6/2025.
Hướng dẫn sắp xếp, tổ chức lại mạng lưới đơn vị sự nghiệp công lập theo ngành, lĩnh vực từ trung ương đến cấp xã theo định hướng nêu trên để cung ứng dịch vụ sự nghiệp công khi thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp, đặc biệt là cung ứng các dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu, đáp ứng yêu cầu của người dân, bảo đảm không làm tăng đầu mối và số lượng người làm việc hưởng lương từ ngân sách nhà nước, hoàn thành trước 15/6/2025.
Các địa phương chủ động xây dựng phương án sắp xếp, tổ chức lại các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc phạm vi quản lý theo định hướng tại văn bản này và điều chỉnh kịp thời theo hướng dẫn của Bộ quản lý ngành, lĩnh vực, bảo đảm tổ chức triển khai đồng bộ với thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp, kịp thời đáp ứng yêu cầu cung cấp dịch vụ sự nghiệp công trên địa bàn theo quy định.
Trong quá trình triển khai có những vướng mắc, khó khăn thì kịp thời báo cáo Ban Chỉ đạo của Chính phủ xem xét, giải quyết./.

28/05/2025

Ngày 25/5/2025, thay mặt Bộ Chính trị, đồng chí Trần Cẩm Tú ký ban hành Kết luận số 157-KL/TW của Bộ Chính trị về triển khai thực hiện các nghị quyết, kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị về sắp xếp tổ chức bộ máy và đơn vị hành chính.
Kết luận 157-KL/TW nêu rõ, căn cứ tình hình, kết quả thực hiện nghị quyết, kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị; để bảo đảm tiến độ, yêu cầu về hợp nhất, sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh, không tổ chức đơn vị hành chính cáp huyện và tổ chức lại đơn vị hành chính cấp xã; sau khi xem xét, đề xuất, kiến nghị của Ban Tổ chức Trung ương tại Báo cáo số 392-BC/BTCTW, ngày 23/5/2025 về tình hình, tiến độ triển khai thực hiện các nghị quyết, kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị về sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị (từ ngày 17/5-23/5/2025), Bộ Chính trị kết luận như sau:
Bộ Chính trị yêu cầu hoàn tất sắp xếp cấp xã trước 15/7, cấp tỉnh trước 15/8/2025
Bộ Chính trị yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng tiếp tục làm tốt công tác tư tưởng, chủ động nắm tình hình dự luận, dự báo nguy cơ, kịp thời nhận diện, xử lý các vấn đề phức tạp nảy sinh, bảo đảm sự đoàn kết thống nhất nội bộ trong quá trình sắp xếp, bộ máy mới đi vào hoạt động thông suốt, nâng cao hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả.
Bộ Chính trị giao đồng chí được Bộ Chính trị phân công triệu tập, đồng chủ trì cùng các đồng chí bí thư tỉnh ủy, thành ủy trong diện hợp nhất, sáp nhập chỉ đạo triển khai thực hiện nghiêm các chủ trương, kết luận, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về xây dựng văn kiện Đại hội Đảng bộ các cấp, về xây dựng phương án, chuẩn bị công tác nhân sự cấp ủy, cấp tỉnh thuộc diện hợp nhất, sáp nhập và cấp xã thành lập mới; tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tuyệt đối tránh khuynh hướng, tư tưởng cục bộ địa phương, "lợi ích nhóm", tiêu cực.
Đồng thời, giao đồng chí được Bộ Chính trị phân công triệu tập chủ trì, chỉ đạo việc xây dựng văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh, thành phố (mới).
Bộ Chính trị giao Ban Thường vụ các tỉnh ủy, thành ủy chủ động công tác chuẩn bị các điều kiện cần thiết, sẵn sàng quy trình, thủ tục để tổ chức triển khai thực hiện chuyển giao các chức năng, nhiệm vụ từ cấp huyện về cấp xã sau sáp nhập ngay sau khi các văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực từ 1/7/2025;
Bảo đảm kiện toàn tổ chức bộ máy, điều kiện làm việc của các cơ quan cấp tỉnh, cấp xã sau khi sáp nhập hoạt động đồng bộ, thông suốt, hiệu lực hiệu quả, không để gián đoạn công việc, không bỏ trống địa bàn, lĩnh vực, không để ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và nhân dân.
Đưa vào hoạt động cấp xã mới từ ngày 1/7/2025, phấn đấu hoàn thành trước ngày 15/7/2025. Cấp tỉnh phấn đấu hoàn thành trước ngày 15/8/2025. Nghiêm cấm việc tác động, can thiệp trong quá trình sắp xếp nhân sự; xử lý nghiêm vi phạm (nếu có).
Bộ Chính trị giao Đảng ủy Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo:
Khẩn trương hoàn thành dự thảo Nghị định về phân cấp, phân quyền và phân định thẩm quyền cho chính quyền địa phương 2 cấp, Nghị định quy định về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, cấp xã theo đúng Kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đặc biệt là chủ trương phân cấp, phân quyền;
Hướng dẫn tạm thời biên chế của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND xã, phường, đặc khu, hoàn thành trong tháng 5/2025;
Sau đó, xác định vị trí việc làm gắn giao biên chế cho địa phương bảo đảm trong thời hạn 5 năm cơ bản số lượng biên chế thực hiện theo đúng quy định của cấp có thẩm quyền giao.
Tiếp tục rà soát, bổ sung hướng dẫn kịp thời các nội dung, nhiệm vụ cần thực hiện hoặc chuyển tiếp khi sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp xã, kết thúc hoạt động của chính quyền cấp huyện, thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, hoàn thành trước ngày 5/6/2025, bảo đảm hoạt động của chính quyền địa phương 2 cấp thông suốt, liên tục, không gián đoạn và hiệu quả.
Đảng ủy Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan khẩn trương ban hành các văn bản quy định, hướng dẫn liên quan đến tiêu chuẩn chức danh công chức xã, phường, đặc khu kèm theo kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ; về chế độ, chính sách hỗ trợ người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã hoàn thành trước ngày 15/6/2025.
Bộ Chính trị giao Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương lãnh đạo, chỉ đạo Đảng ủy Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam nghiên cứu, sớm ban hành văn bản chỉ đạo, hướng dẫn việc kết thúc hoạt động, không lập tổ chức công đoàn trong các cơ quan hành chính, lực lượng vũ trang, đơn vị sự nghiệp hưởng 100% lương từ ngân sách nhà nước đảm bảo đồng bộ với quá trình sửa đổi, bổ sung Hiến pháp và Luật Công đoàn.
Bộ Chính trị giao Ban Tổ chức Trung ương:
- Tổng hợp ý kiến tham gia của các cơ quan, ban đảng Trung ương và các cấp ủy trực thuộc Trung ương, khẩn trương hoàn thiện các Đề án, trình Bộ Chính trị, Ban Bí thư xem xét, quyết định ban hành các quy định có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, quy chế làm việc của đảng ủy xã, phường, đặc khu, của các cơ quan tham mưu, giúp việc, đơn vị sự nghiệp cấp ủy cấp xã... để làm cơ sở cho địa phương triển khai thực hiện Đề án kết thúc hoạt động của cấp huyện, thành lập cấp xã mới.
- Phối hợp các cơ quan có liên quan, các tỉnh uỷ, thành uỷ thuộc diện hợp nhất, sáp nhập hoàn thiện phương án nhân sự cấp uỷ, cấp tỉnh báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư... xem xét, quyết định trước ngày 20/6/2025 (phấn đấu hoàn thành trước ngày 15/6/2025).
- Phối hợp các tỉnh ủy, thành ủy thuộc diện sáp nhập hoàn thiện Đề án chấm dứt hoạt động của các đảng bộ tỉnh, thành phố thuộc diện hợp nhất, sáp nhập và lập Đảng bộ tỉnh, thành phố (mới).
Bộ Chính trị giao các cơ quan, ban đảng Trung ương tiếp tục rà soát, tham mưu việc sửa đổi, bổ sung, ban hành các văn bản của Đảng có liên quan để bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất, thông suốt giữa Trung ương và địa phương sau sắp xếp đơn vị hành chính các cấp, thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp./.

24/05/2025

🇻🇳 ĐỒNG CHÍ TRẦN ĐỨC LƯƠNG - NHÀ LÃNH ĐẠO CÓ NHIỀU ĐÓNG GÓP QUAN TRỌNG CHO SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI, PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC

---
Thông tin Chính phủ xin trân trọng giới thiệu bài viết: “ĐỒNG CHÍ TRẦN ĐỨC LƯƠNG - NHÀ LÃNH ĐẠO CÓ NHIỀU ĐÓNG GÓP QUAN TRỌNG CHO SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI, PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC” của Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính:

Đồng chí Trần Đức Lương - nguyên Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ - người chiến sĩ cộng sản kiên trung, chính trực, người đồng chí thân thiết, gần gũi, người lãnh đạo kỹ trị đáng kính, mẫu mực, nhà khoa học xuất sắc, suốt đời tận tụy vì nước, vì dân, vừa vĩnh biệt chúng ta. Sự ra đi của Đồng chí là niềm tiếc thương vô hạn, nhưng đồng thời cũng để lại những di sản quý giá và là tấm gương sáng cho các thế hệ hôm nay và mai sau.

Đồng chí Trần Đức Lương sinh ngày 05/5/1937 tại Quảng Ngãi - mảnh đất tươi đẹp, giàu truyền thống văn hóa, lịch sử hào hùng. Sau Hiệp định Geneve chia cắt đất nước làm hai miền Nam - Bắc, năm 1955, khi vừa tròn 18 tuổi, đồng chí Trần Đức Lương tập kết ra Bắc, theo học sơ cấp kỹ thuật địa chất, mở đầu cho quá trình nhiều năm đồng chí gắn bó với ngành Mỏ - Địa chất, một ngành công nghiệp quan trọng mang tính nền tảng cho phát triển đất nước.

Kể từ đó tới năm 1986, Đồng chí dành hơn 30 năm gắn bó bền bỉ với ngành Mỏ - Địa chất, nhanh chóng khẳng định năng lực chuyên môn và tinh thần trách nhiệm cao, được tín nhiệm giao đảm đương nhiều vị trí quan trọng, là Tổng Cục trưởng Tổng cục Địa chất (nay là Cục Địa chất và Khoáng sản) trong giai đoạn 1979-1987. Đồng chí đã trực tiếp lăn lộn trên khắp các địa bàn rừng núi của các vùng miền trên đất nước ta, cần mẫn khảo sát và nghiên cứu địa chất, góp phần quan trọng vào việc xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên quốc gia phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của nhiều địa phương và cả nước; là đồng tác giả công trình nghiên cứu lập "Bản đồ địa chất tỷ lệ 1/500.000 miền Bắc Việt Nam" - công trình hợp tác Xô - Việt trong các năm 1960-1965; là đồng chủ biên cụm công trình nghiên cứu lập "Bản đồ địa chất Việt Nam tỷ lệ 1/500.000" xuất bản năm 1988 và được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2005.

Những kinh nghiệm thực tiễn phong phú từ ngành Mỏ - Địa chất đã tôi luyện, rèn giũa cho đồng chí Trần Đức Lương tầm nhìn chiến lược, sát thực tiễn, khả năng tư duy, phân tích sắc bén và tinh thần làm việc khoa học, nghiêm túc; tạo nền tảng quan trọng cho những đóng góp to lớn của Đồng chí trong thời kỳ đổi mới đất nước từ năm 1986, trên các cương vị lãnh đạo Chính phủ đến người đứng đầu Nhà nước.

Từ năm 1987, ngay sau khi Đảng chủ trương đổi mới và hội nhập, đồng chí được phân công làm Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Phó Thủ tướng Chính phủ) và từ năm 1992, Đồng chí được Quốc hội bầu giữ chức Phó Thủ tướng Chính phủ. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng, Đồng chí được Ban Chấp hành Trung ương Đảng tín nhiệm bầu vào Bộ Chính trị (tháng 6/1996). Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, Đồng chí được bầu làm Chủ tịch nước và đảm nhận cương vị này trong 02 nhiệm kỳ Đại hội Đảng cho đến năm 2006.

Trên các cương vị lãnh đạo Chính phủ và Nhà nước, đồng chí Trần Đức Lương đã có nhiều đóng góp quan trọng, toàn diện vào sự nghiệp đổi mới, hội nhập và phát triển đất nước với những dấu ấn nổi bật, nhất là trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Trên mặt trận kinh tế, với vai trò Phó Thủ tướng Chính phủ, đồng chí Trần Đức Lương đã cùng với tập thể lãnh đạo Chính phủ đưa ra nhiều quyết sách quan trọng, tạo tiền đề vững chắc cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Đồng chí đã dành nhiều tâm huyết chỉ đạo công tác nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên, đặc biệt là dầu khí, góp phần quan trọng vào tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước; đồng thời tham gia sâu rộng vào quá trình xây dựng các chính sách kinh tế, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, khuyến khích đầu tư nước ngoài; cùng Bộ Chính trị và Chính phủ đưa ra những đường lối, chủ trương đúng đắn để vượt qua khó khăn, duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư kinh doanh.

Sau sự sụp đổ của Liên Xô và chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu, Đồng chí đã đề xuất đẩy mạnh quan hệ hợp tác với Liên bang Nga, nhất là trong các lĩnh vực dầu khí và năng lượng. Trong đó, nổi bật là việc duy trì mua các tổ hợp thiết bị cho Nhà máy Thủy điện Hòa Bình, ký lại và triển khai Hiệp định hợp tác Việt - Nga trên lĩnh vực dầu khí theo những nguyên tắc và thông lệ quốc tế, cải tổ Liên doanh Dầu khí Việt - Xô (Vietsovpetro) và duy trì hoạt động của Ủy ban hợp tác Liên Chính phủ Việt - Nga. Đồng chí đã chỉ đạo và tham gia chỉ đạo soạn thảo nhiều dự án luật và nghị quyết quan trọng của Chính phủ thời kỳ đầu đổi mới, trong đó có Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987, Luật Đất đai năm 1988, các nghị định của Chính phủ về quản lý xây dựng cơ bản, doanh nghiệp nhà nước, lao động, tiền lương, hợp tác xã, hộ kinh tế cá thể, gia đình trong giai đoạn đầu của thời kỳ đổi mới…

Được giao nhiệm vụ là Phó Thủ tướng Chính phủ phụ trách các ngành kinh tế - kỹ thuật, bao gồm công nghiệp, nông nghiệp, thương mại - dịch vụ, xây dựng, giao thông vận tải, bưu chính - viễn thông, Đồng chí đã dành nhiều thời gian, công sức để tập trung chỉ đạo và đạt được những kết quả quan trọng, góp phần đưa nước ta từng bước thoát ra khỏi tình trạng lạm phát phi mã và phục hồi sản xuất, kinh doanh. Công tác cải tiến quản lý xí nghiệp và các ngành kinh tế - kỹ thuật có những bước phát triển mới với việc ban hành một số bộ luật quan trọng được Đồng chí chỉ đạo xây dựng hoặc tham gia xây dựng (như Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990, Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993, Luật Đất đai năm 1993, Luật Khuyến khích đầu tư trong nước năm 1995, Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 1995, Luật Dầu khí năm 1993, Luật Hợp tác xã năm 1996...).

Đồng chí đã cùng tập thể Lãnh đạo Chính phủ chỉ đạo ban hành các nghị định, quyết định về thành lập các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, về chính sách nhà ở thời kỳ đổi mới[1], các quyết định, nghị định về quyền tự chủ, tự đầu tư, tự chủ tài chính, hợp tác đầu tư với nước ngoài để phát triển các dự án có trình độ khoa học, kỹ thuật tiên tiến, hiện đại trên các lĩnh vực quan trọng như: dầu khí, năng lượng, vận tải, hàng không, xi măng, dệt may, nông - lâm - ngư nghiệp... [2]; qua đó, mở ra một giai đoạn phát triển mạnh mẽ trên tất cả các ngành kinh tế - kỹ thuật. Các luật, nghị định, văn bản pháp luật liên quan trong thời kỳ này đã góp phần hình thành, từng bước hoàn thiện môi trường pháp lý cho các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế hoạt động thuận lợi, hiệu quả trong nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, có sự quản lý của Nhà nước.

Đồng chí đã cùng Lãnh đạo Đảng, Nhà nước tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, dẫn dắt, định hướng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đẩy mạnh công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế sâu rộng, đặc biệt là khắc phục có hiệu quả những tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997-1998, giúp đất nước nhanh chóng vượt qua khó khăn, thách thức, duy trì ổn định vĩ mô, phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội. Đồng thời, Đồng chí cũng đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội và nhiều lần nhấn mạnh: "Phải xây dựng một Nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân; mọi quyền lực phải vì lợi ích của Nhân dân". Dưới sự chỉ đạo của Đồng chí, những cải cách về thể chế, tổ chức bộ máy và thủ tục hành chính đã từng bước được triển khai, tạo nền tảng quan trọng cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của đất nước.

Về quốc phòng - an ninh, trên cương vị là Chủ tịch nước - Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh, đồng chí Trần Đức Lương đã chỉ đạo xây dựng nhiều chiến lược, chương trình, chính sách quan trọng về quốc phòng - an ninh, góp phần bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Trong đó, Chương trình Biển Đông, hải đảo là một chương trình có tầm quan trọng đặc biệt trước mắt và lâu dài. Đồng chí Trần Đức Lương được giao nhiệm vụ làm Trưởng Ban chỉ đạo, trước hết là chỉ đạo thực hiện các chương trình đánh bắt xa bờ. Các cảng cá và âu thuyền ở tất cả các hải đảo được xây dựng lần đầu, gồm Cô Tô, Bạch Long Vỹ, Lý Sơn, Phú Quý, Côn Đảo, Phú Quốc và các đèn hải đăng ở quần đảo Trường Sa. Đồng chí Trần Đức Lương chỉ đạo xây dựng các nhà giàn DK đầu tiên trên thềm lục địa và đề xuất lựa chọn công trình trên đảo để xây dựng cảng tàu thuyền phục vụ phát triển kinh tế và bảo đảm quốc phòng, an ninh, chủ quyền trên biển. Đồng chí đã chỉ đạo Ban biên giới Chính phủ đàm phán thành công việc phân định biên giới vùng đặc quyền kinh tế trên biển với Thái Lan, Malaysia, phân định ranh giới thềm lục địa với Indonesia và quyền kiểm soát không lưu trên biển vùng phía Nam (FIR-HCM).

Đồng chí cũng được Bộ Chính trị phân công phụ trách tổ công tác liên ngành (ngoại giao, quốc phòng, an ninh, nội chính...) soạn thảo Đề án bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, được Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương thông qua và ban hành Nghị quyết Trung ương 8 (khóa IX) về "Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới". Đây là Nghị quyết có tầm quan trọng đặc biệt, mang tính chiến lược lâu dài đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đồng chí cũng đã đóng góp cùng với Bộ Chính trị chỉ đạo đàm phán thành công, ký các văn kiện phân định biên giới trên bộ và biên giới trên biển (khu vực Vịnh Bắc Bộ) với Trung Quốc.

Được Bộ Chính trị phân công phụ trách Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp Trung ương, Đồng chí đã chỉ đạo Ban Nội chính Trung ương và các cơ quan tư pháp thúc đẩy mạnh mẽ sự nghiệp cải cách tư pháp trong toàn quốc, tạo chuyển biến cơ bản trong toàn hệ thống theo tinh thần Chỉ thị của Bộ Chính trị về cải cách tư pháp trong thời kỳ đổi mới. Đồng chí đã cùng Hội đồng Quốc phòng và An ninh thảo luận và chỉ đạo xây dựng Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp, được Bộ Chính trị và Thường vụ Quốc hội nhất trí thông qua.

Trên mặt trận đối ngoại, phát huy kinh nghiệm dày dặn khi còn là Đại diện thường trực Việt Nam tại Hội đồng Tương trợ Kinh tế (SEV) trong giai đoạn 1987-1992, trên cương vị là Chủ tịch nước, đồng chí Trần Đức Lương đã chỉ đạo sâu sát và thực hiện thành công nhiều chuyến thăm và tiếp đón các nguyên thủ quốc gia, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác và phát triển với các quốc gia, khu vực, tổ chức đa phương. Tiêu biểu là chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đức Lương tới Liên bang Nga tháng 8/1998, đã tạo bước đột phá mới trong quan hệ hợp tác nhiều mặt giữa hai nước; trong đó, lần đầu tiên Tổng thống Nga Boris Yeltsin khẳng định Nga coi Việt Nam là đối tác chiến lược ở Đông Nam Á. Đồng chí Trần Đức Lương cũng có nhiều đóng góp quan trọng góp phần làm chuyển biến mạnh mẽ quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ sau khi hai nước bình thường hóa quan hệ vào năm 1995. Đồng chí đã gặp chính thức Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton tại New York vào tháng 9/2000 trong dịp tham dự Hội nghị Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc và mời Tổng thống Hoa Kỳ đến thăm Việt Nam; sau đó, vào tháng 11/2000, Đồng chí đã đón Tổng thống Bill Clinton trong chuyến thăm lịch sử đến Việt Nam, là Tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên tới Việt Nam kể từ sau khi chiến tranh kết thúc. Đồng chí cũng đã chỉ đạo sâu sát quá trình chuẩn bị và đàm phán với Hoa Kỳ để ký kết Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, được Thượng viện Hoa Kỳ thông qua vào ngày 04/10/2001.

Đồng chí Trần Đức Lương đã có nhiều chỉ đạo quan trọng góp phần vận dụng sáng tạo tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh trong tình hình mới, định hình đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, từng bước đẩy mạnh đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, đưa Việt Nam trở thành thành viên tích cực và có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, đặc biệt là việc Việt Nam đã gia nhập APEC (1998) và chuẩn bị các bước quan trọng để gia nhập WTO (2007), mở đường cho giai đoạn hội nhập chủ động, tích cực với hàng loạt hiệp định thương mại, đầu tư song phương và đa phương mà đất nước ta đã ký kết từ đó đến nay.

Củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc luôn được đồng chí Trần Đức Lương dành sự quan tâm sâu sắc. Những hình ảnh cảm động của Đồng chí với đồng bào dân tộc, người thiểu số, phụ nữ, trẻ em, các hội đoàn, tổ chức chính trị - xã hội, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài làm lay động hàng triệu trái tim người Việt Nam. Đồng chí đã có nhiều cuộc gặp mặt, phát biểu, gửi Thư với tình cảm ấm áp, sự động viên, khích lệ chân thành và định hướng chỉ đạo sâu sắc với Hội Chữ thập đỏ Việt Nam, Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Giáo hội Phật giáo Việt Nam; các anh hùng, chiến sĩ thi đua và điển hình tiên tiến xuất sắc toàn quốc; các nhà giáo, các cháu thiếu niên và nhi đồng; gặp gỡ thân mật kiều bào vui xuân đón Tết...

Là đại biểu Quốc hội từ khóa VII đến XI, Đồng chí đã gắn bó mật thiết với hoạt động lập pháp và giám sát tối cao của Quốc hội, đưa tiếng nói của người dân đến với Quốc hội, đồng thời góp phần nâng cao vai trò, vị trí của cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất. Thúc đẩy những chính sách vì người nghèo, người yếu thế, nhất là vùng sâu vùng xa, với đồng chí Trần Đức Lương, tư tưởng "dân làm gốc", coi trọng nguồn lực con người, "không để ai bị bỏ lại phía sau" không chỉ là một phương châm hành động, mà là một tình cảm chân thành, sâu sắc với Nhân dân; trong đó dưới sự chỉ đạo và quan tâm của Đồng chí, nhiều chương trình xóa đói giảm nghèo, phủ sóng thông tin, điện lưới, trường học, trạm y tế tại các huyện nghèo, vùng cao, biên giới được ưu tiên thực hiện.

Không chỉ là một nhà lãnh đạo có tầm vóc với nhiều đóng góp quan trọng cho đất nước, đồng chí Trần Đức Lương còn là một đảng viên trung kiên, suốt đời phấn đấu vì lý tưởng cộng sản, vì sự phát triển của đất nước, vì hạnh phúc của Nhân dân. Ngay từ năm 1959, Đồng chí đã được đứng vào hàng ngũ của Đảng và rèn luyện, cống hiến không ngừng nghỉ trong suốt 66 năm qua. Trong mọi cương vị công tác, Đồng chí luôn thể hiện tinh thần tiên phong, gương mẫu, khiêm nhường và gần gũi với Nhân dân; giữ vững sự liêm khiết, giản dị, chí công vô tư; chăm lo gìn giữ khối đoàn kết, thống nhất của Đảng. Đồng chí luôn đặt lợi ích của đất nước và Nhân dân lên trên hết, luôn trăn trở, tìm tòi những cơ chế, chính sách, giải pháp hữu hiệu phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho Nhân dân, vì tương lai tốt đẹp của đất nước. Sự khiêm tốn, chân thành của Đồng chí đã tạo nên hình ảnh một nhà lãnh đạo uy tín, được Nhân dân quý mến, được bạn bè quốc tế trân trọng.

Đặc biệt, đồng chí Trần Đức Lương luôn nhấn mạnh tầm quan trọng của sự đoàn kết, chung sức, đồng lòng trong Đảng và trong toàn dân. Đồng chí luôn giữ vững nguyên tắc, thực hiện đúng chủ trương giải quyết các vấn đề một cách khách quan, khoa học, dựa trên thực tiễn và lợi ích quốc gia. Đồng chí là một nhà lãnh đạo mẫu mực với tinh thần làm việc nghiêm túc, sự cẩn trọng trong từng quyết sách, cùng với tấm lòng tận tụy, hết lòng vì sự nghiệp chung, để lại một tấm gương đạo đức cách mạng cao đẹp, lan tỏa nhiều giá trị quan trọng, cả trong chính sách, trong tinh thần và trong ký ức của đồng bào, của những người từng được cùng đồng hành, cùng làm việc với Đồng chí trên các cương vị công tác khác nhau.

Sau khi được Đảng, Nhà nước cho nghỉ hưu theo chế độ, đồng chí Trần Đức Lương vẫn luôn đau đáu, trăn trở, tâm huyết và tiếp tục có những ý kiến đóng góp quan trọng trên các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Mỗi khi các đồng chí Lãnh đạo Đảng, Nhà nước và tôi đến thăm, Đồng chí đều trao đổi sâu sắc về những vấn đề quan trọng, mang tầm chiến lược và căn dặn phải có tầm nhìn xa, trông rộng, nghĩ sâu, làm lớn, tất cả vì sự phát triển của đất nước, vì hạnh phúc, ấm no của Nhân dân, đặc biệt là phải chú trọng hơn nữa công tác rèn luyện, bồi dưỡng thế hệ trẻ - những chủ nhân tương lai của đất nước.

Nhân dịp kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Đảng (03/02/1930-03/02/2025), Đồng chí đã được trao tặng Huy hiệu 65 năm tuổi Đảng. Đồng chí cũng đã được Đảng, Nhà nước trao tặng Huân chương Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước hạng Nhì (năm 1995) và Huân chương Sao vàng (tháng 12/2007) - Huân chương cao quý nhất của Đảng và Nhà nước dành tặng những người có đóng góp đặc biệt xuất sắc đối với đất nước. Đồng thời, Đồng chí còn nhận nhiều Huân chương và danh hiệu cao quý do bạn bè quốc tế trao tặng[3]. Những phần thưởng quý giá này là sự ghi nhận và đánh giá cao của Ðảng, Nhà nước và bạn bè quốc tế dành cho Đồng chí Trần Đức Lương về những đóng góp to lớn và xuất sắc của đồng chí đối với sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Ðảng, của dân tộc và quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa Việt Nam và các nước. Những kinh nghiệm thực tiễn và đóng góp, cống hiến của đồng chí Trần Ðức Lương là tài sản quý giá cho những thế hệ hôm nay và mai sau học tập, trân trọng giữ gìn và tiếp tục phát huy trong công cuộc xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc.

Những di sản, đóng góp quan trọng và bài học kinh nghiệm sâu sắc từ cuộc đời và sự nghiệp của đồng chí Trần Đức Lương vẫn còn nguyên giá trị cho chúng ta hôm nay, đặc biệt là trong quá trình triển khai thực hiện cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy và các quyết sách "Bộ tứ trụ cột" của Bộ Chính trị để đưa đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên vươn mình phát triển giàu mạnh, văn minh, thịnh vượng của dân tộc, như đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm đã khẳng định.

Cuộc đời và sự cống hiến không ngừng nghỉ của Đồng chí Trần Đức Lương là nguồn cảm hứng cho cán bộ, đảng viên, Nhân dân ta, cho thế hệ trẻ hôm nay và mai sau viết tiếp những trang sử vẻ vang cho dân tộc. Đồng chí mãi là tấm gương sáng để đồng bào, đồng chí, cán bộ và chiến sĩ cả nước trân trọng, học tập và noi theo, phát huy tinh thần đoàn kết, chung sức, đồng lòng xây dựng thành công nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, phồn vinh, hạnh phúc, sánh vai với các cường quốc năm châu, như Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu hằng mong muốn./.

---
[1] Nghị định của Chính phủ số 60-CP ngày 5/7/1994 về quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại đô thị và Nghị định của Chính phủ số 61-CP ngày 5/7/1994 về mua bán và kinh doanh nhà ở.

[2] Những dự án có tầm quan trọng đặc biệt trong giai đoạn này có thể kể đến như: xây dựng thủy điện Yaly, Trị An; xây dựng đường dây tải điện cao thế Bắc Nam 500 kV; dự án khai thác dầu khí mỏ Bạch Hổ; dự án đưa khí từ mỏ Bạch Hổ vào đất liền và xây dựng cụm công nghiệp khí - điện - đạm Phú Mỹ; các công trình thủy lợi khai thác tứ giác Long Xuyên; hoàn thành cải tạo các tuyến quốc lộ trọng yếu của đất nước (quốc lộ 1, quốc lộ 5, quốc lộ 10, quốc lộ 51, quốc lộ 18...).

[3] Trong đó có danh hiệu Giáo sư danh dự Viện Hàn lâm khoa học Liên bang Nga (năm 1998); Huân chương José Marti của Chính phủ Cuba (năm 2000); Huân chương Agricola, Chương trình Nông nghiệp và Lương thực của Liên hợp quốc (năm 2002); Huân chương Công trạng cao quý của Chính phủ Công-gô (năm 2002); Huân chương Bắc đẩu bội tinh của Chính phủ Pháp (năm 2002)…

📸 Chủ tịch nước Trần Đức Lương đọc thông điệp chào thiên niên kỷ mới và chúc mừng năm mới 2000 (Hà Nội, 1/1/2000). (Ảnh: Minh Điền/TTXVN)

Address

Ngô Gia Tự
Phan Rang

Opening Hours

Monday 09:00 - 17:00
Tuesday 09:00 - 17:00
Wednesday 07:00 - 17:00
Thursday 07:00 - 17:00
Friday 09:00 - 17:00

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Đoàn khối Uỷ ban nhân dân tỉnh Ninh Thuận posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Business

Send a message to Đoàn khối Uỷ ban nhân dân tỉnh Ninh Thuận:

Shortcuts

Share