07/12/2020
[TANG PHỤC VÀ NHỮNG ĐIỀU ẨN GIẤU]
Tang phục là loại áo quần dùng để cho con cháu còn sống thể hiện lòng hiếu thảo đối với ông bà, cha mẹ và cho những người thân thuộc trong gia đình biểu lộ ân tình đối với người quá cố. Không những thế tang phục cũng nhằm nhắc nhở bổn phận của những người thọ tang đối với người mất. Đại khái chia ra làm năm hạng như sau: Trảm thôi, tề thôi, đại công, tiểu công và ty ma.
Nếu là con trai, thọ tang cha mẹ thì dùng Trảm thôi, một loại áo quần được may bằng vải sô, không lên lai, cổ trịch như áo lễ, đường sống lưng áo may lộn ra mép ngoài và thắt lưng bằng bẹ chuối, hoặc rơm. Ở sau lưng áo tang có may một tấm vải nhỏ, gọi là tấm Phụ bản, tang cha thì tấm Phụ bản đặt bên vai trái, tang mẹ thì tấm Phụ bản đặt bên vai phải, với ý nghĩa gánh vác sự khó khăn, đau xót. Trên đầu có bịt một bức cân, tức là một cái khăn vải thưa, vuông bằng khổ vải (khổ vải 7 tấc hoặc 8 tấc) bao trùm đầu tóc, bỏ góc khăn ra sau gáy. Trên bức cân có đội mũ bạc, được chế bằng dây chuối hay rơm bện tròn, quấn vải thô bên ngoài. Nếu thọ tang cho cha thì chống gậy trúc (hay tre), gậy cao ngang ngực. Và “cây trúc bốn mùa lá vẫn xanh, lòng thương nhớ không dời đổi. Để tang mẹ thì chống gậy bằng vông, đầu gậy tròn (trời tròn), chót gậy, nơi chống đất hình vuông, (trời tròn đất vuông). Cây vông mềm, sớ không chắc cứng, gợi lòng nhân hậu, khoan dung của mẹ.” (Sơn Nam) Tuy nhiên, theo quyển Quan hôn tang tế của Hội Thánh thì “cây gậy tre (hay trúc) thể hiện tiết tháo ngay chính của người cha được bộc lộ bên ngoài. Cây gậy vông thể hiện tiết hạnh bên trong và đầy lòng từ ái của bà mẹ.” Điều đó đã cho thấy tuy có nét tương đồng về tang phục nhưng ở hai góc độ nhìn nhận khác nhau sẽ mang đến kết quả khác nhau và thể hiện được tính linh hoạt của đạo trong cách giải thích về hàm ý của tang phục. Sở dĩ con phải cầm gậy là bởi Thánh hiền xưa nhân cái tình hiếu tử, vì quá đau thương cha mẹ trong phút sinh ly tử biệt, đến nỗi quên ăn quên ngủ sinh ra bệnh hoạn, đi đứng khó khăn nên mới chế ra cây gậy để nương vào đó đi đứng cho vững vàng.
Nếu là con gái chưa xuất giá, còn sống chung tại nhà thì thọ tang Trảm thôi. Trên đầu quấn khăn tang được dùng bằng nửa khổ vải trắng, xếp làm bốn lớp theo chiều dài. Còn nếu như con gái xuất giá thì thọ tang cha mẹ dùng Tư thôi (hay Tề thôi), nghĩa là áo tang cũng may bằng vải thô nhưng viền lai, đầu đội mũ nhọn bằng vải che hết cả mặt. Người xưa có câu “xuất giá tòng phu” nên vì vậy vai trò của người con gái có chồng đã hạn chế, gánh vác cũng như bổn phận đối với cha mẹ ruột cũng giảm bớt.
Trong khi đó con dâu lại mặc áo Trảm thôi khi cha mẹ chồng mất, khăn tang quấn quanh đầu và sau lưng áo có tấm Phụ bản. Tấm Phụ bản đã thể hiện được con dâu khi xuất giá thì phải mang những gánh nặng và trọng trách đối với gia đình chồng. Còn con rể cũng dùng khăn tang quấn quanh đầu nhưng nếu cha ruột mất thì có lớp khăn che phần trên đầu, mẹ ruột mất thì ngược lại. Cháu nội trai phải đội bức cân nhưng không mặc áo Trảm thôi để cho thấy được trách nhiệm của bản thân trong việc thờ cúng của ông bà khi mất, còn cháu nội gái và cháu ngoại thì chỉ cột tang bình thường.
Như vậy, có thể nói người sống dùng tang phục để biểu lộ tình cảm với người quá cố. Tình cảm có thân, có sơ, cho nên mới có người thân và người không thân, lễ sẽ định sự khác biệt ít nhiều. Đương nhiên người thân thiết thì tình cảm sẽ sâu nặng hơn, thì thọ tang phục sẽ tương đối phức tạp hơn; trái lại người thân xa, tình cảm cũng xa, tang phục do đó cũng đơn giản hơn. Tóm lại, Thánh hiền nghị chế ra tang phục là để đo lường cái nhân tình trọng khinh, hậu bạc mà định phân thể thức bề ngoài để thể hiện tấm lòng con người đối xử lẫn nhau.