13/02/2023
Các định luật vạn vật cân bằng
và sự ra đời của thuyết “Cơ học thế hệ mới”
1. Định luật II Niu-tơn dưới góc nhìn kinh tế học và Định luật vạn vật cân bằng 1
Định luật II Niu-tơn được phát biểu như sau:
Gia tốc của một vật cùng hướng với lực tác dụng lên vật. Độ lớn của gia tốc tỉ lệ thuận với độ lớn của lực và tỉ lệ nghịch với khối lượng của vật.
Công thức: a =F/m, hay F = m.a
Trong đó: F là lực tác dụng (N); m là khối lượng (kg); a là gia tốc (m/s2)
Nhìn vào công thức trên, ta hiểu rằng khi đang đứng yên mà có ngoại lực tác động vào vật, thì vật có thiên hướng chuyển trạng thái từ đứng yên sang chuyển động với một gia tốc nào đó. Câu hỏi thú vị đặt ra ở đây là khi vật đã chuyển sang trạng thái chuyển động với một gia tốc nào đó, tương ứng với công thức F = m.a, thì ngoại lực tác dụng vào vật có còn tồn tại như khi nó đang đứng yên hay không?
Để trả lời câu hỏi này ta hãy dùng khoa học kinh tế, dùng ánh sáng kinh tế học để soi sáng vấn đề. Ta giả lập một thị trường mua bán với F là số lượng tiền (đồng), m là giá thóc (giá cả hàng hoá), và a là số lượng thóc, với số lượng tiền F có thể mua được (kg). Công thức trao đổi tương đương ở đây là F = a.m. Bây giờ giả thử ta có lượng tiền F, và ta xâm nhập thị trường đó để mua số lượng thóc a.m, thì điều gì sẽ sảy ra vậy? Xin thưa đó là trước khi mua thóc ta có tiền, nhưng sau khi mua thóc thì ta chỉ có thóc, chứ tiền thì không còn nữa. Điều này cho ta thấy ta không thể đồng thời có cả hai thứ, vừa có thóc lại vừa có tiền. Cụ thể nếu F là 10 đồng, m là 2 đồng/kg thóc, thì a là 5kg thóc. Ta đem 10 đồng đi mua 5kg thóc, thì trước khi mua ta có 10 đồng, và sau khi mua ta có 5kg thóc. Nghĩa là ta chỉ có thể có 10 đồng hoặc 5kg thóc, chứ không thể vừa có đồng thời cả hai.
Đem triết lý mua bán (trao đổi tiền – hàng) này soi chiếu vào công thức F = m.a của định luật II Niu-tơn, ta có thể nhận ra khi vật còn đứng yên thì còn có lực F tác dụng vào vật, nhưng khi vật đã chuyển động với gia tốc a, thì lực F không còn tồn tại nữa. Nghĩa là khi vật đứng yên thì ta có lực F (là lực đơn hay tổng hợp lực) tác dụng vào vật, còn khi vật chuyển động có gia tốc thì ta không còn lực F nữa. Điều này cũng lý giải cho câu thành ngữ nói về việc chặt củi: “Dao sắc không bằng chắc kê”: nếu ta không kê chắc, để thanh củi có thể chuyển động khi dùng dao chặt nó, thì sẽ tốn nhiều công sức hơn, do lực của dao tác dụng vào thanh củi di chuyển đã bị suy giảm đi rất nhiều. Có thể nói lực F gây ra chuyển động gia tốc của vật, nhưng không còn tác dụng vào vật khi nó chuyển động gia tốc, là một trong những bí ẩn lớn nhất của khoa học vật lý. Một khi bí ẩn này được khám phá, thì một phần thế giới mới của khoa học vật lý cũng được mở ra. Phần thế giới mới được mở ra đó, chính là sự ra đời của thuyết “Cơ học thế hệ mới”. Từ bí ẩn khoa học được khám phá này, ta có thể tiên đoán trên thực tế không có lực quán tính, và phát biểu định luật cân bằng 1 như sau:
Định luật vạn vật cân bằng 1
Một lực được coi là nguyên nhân trực tiếp tạo ra chuyển động gia tốc, sẽ đồng thời mất đi khi vật bắt đầu chuyển động tương ứng với gia tốc đó. Nói cách khác thì độ lớn của lực tác dụng vào vật luôn có xu hướng trao đổi thành chuyển động gia tốc của vật. Công thức trao đổi ở đây là:
F = M.A trong đó:
F : Lực tác dụng vào vật, là nguyên nhân trực tiếp tạo ra chuyển động gia tốc
M: Khối lượng vật
A: Gia tốc chuyển động
Hệ quả Định luật vạn vật cân bằng 1
Định luật vạn vật cân bằng 1 cho ta một lăng kính rất mới để nhìn nhận vô vàn các sự vật hiện tượng đã và đang diễn ra trong thế giới tự nhiên rất sinh động và kì bí. Ta sẽ thấy một cầu thủ bóng đá đá quả bóng với một lực rất mạnh, mà bóng không hề bị vỡ, hay một cầu thủ bóng bàn dùng vợt đập bóng cũng với một lực rất mạnh, mà bóng cũng không sao. Và ta hiểu đó là do một phần rất lớn lực đá bóng (hay lực đập bóng bàn) đó đã được trao đổi thành chuyển động gia tốc của quả bóng đá (hay bóng bàn). Nhìn rộng ra chúng ta có thể biết được tương tác hấp dẫn một chiều là một trong những tương tác phổ biến nhất trong vũ trụ. Ví dụ tương tác hấp dẫn giữa trái đất và mặt trăng là tương tác một chiều: chỉ có mặt trăng hút trái đất. Trái đất không hút mặt trăng, bởi vì lực hấp dẫn mà nó hút mặt trăng được trao đổi thành chuyển động của mặt trăng xung quanh trái đất. Tương tự như vậy, các tương tác hấp dẫn giữa các hành tinh của hệ mặt trời, và mặt trời cũng là các tương tác hấp dẫn một chiều.
2. Thuyết “Cơ học thế hệ mới” với định luật vạn vật cân bằng 2
Cơ học thế hệ mới không phải là một phần của thuyết “Cơ học cổ điển”, và càng không phải là một phần của thuyết “Cơ học lượng tử”. Thế giới đã có cơ học cổ điển là số 1, và cơ học lượng tử là số 2, thì việc có thêm một thuyết cơ học thứ 3 là cơ học thế hệ mới cũng không có gì đáng ngạc nhiên. Nếu như cơ học cổ điển là dấu mốc mở ra thời kỳ phát triển thứ nhất của nhân loại, và cơ học lượng tử mở ra thời kỳ phát triển thứ hai, thì cơ học thế hệ mới hoàn toàn có thể mở ra thời kỳ phát triển thứ ba. Trong cơ học thế hệ mới không còn những khái niệm khó hiểu là lực ma sát và lực quán tính nữa. Thay vào đó là các khái niệm lực cản chuyển động, lực cản vận tốc, và lực cản gia tốc. Những khái niệm mới này mang đầy đủ tính khoa học, có mối quan hệ tương quan với nhau, với lực tác dụng là nguyên nhân tạo ra sự chuyển động, cũng như với những thuộc tính của chuyển động là vận tốc và gia tốc. Tuy rằng cơ học thế hệ mới không phải là một phần của cơ học cổ điển, nhưng ta có thể coi nó như là một phiên bản hiện đại của cơ học cổ điển.
Cơ học thế hệ mới nghiên cứu chuyển động của vật thể trong một môi trường vật chất cụ thể và đồng nhất, nhằm tìm ra mối liên hệ tương quan giữa lực tác dụng vào vật, và hai thuộc tính cơ bản của chuyển động là gia tốc và vận tốc.
Như chúng ta đã biết thì công thức F = m.a (trong cơ học cổ điển) không đủ để mô phỏng quá trình chuyển động. Chuyển động của vật luôn có hai thuộc tính cơ bản để mô phỏng là gia tốc và vận tốc, trong khi đó công thức F = m.a mới chỉ đề cập đến gia tốc. Thuộc tính vận tốc chuyển động, cũng giống như gia tốc chuyển động không thể không có mối quan hệ tương quan với lực tác dụng vào vật. Vật có thể chuyển động không có gia tốc, nhưng không thể chuyển động, mà không có vận tốc (vận tốc bằng 0). Vì vậy vấn đề đặt ra là cần tìm ra một phương trình cân bằng đầy đủ hơn, để mô phỏng cân bằng của vật trong quá trình chuyển động, bao gồm mối liên hệ tương quan giữa lực tác dụng vào vật gây ra chuyển động, và các thuộc tính cơ bản của chuyển động là gia tốc và vận tốc. Để tìm ra nguyên nhân của chuyển động là do lực tác dụng vào vật, nhân loại đã mất hàng ngàn năm. Hai thuộc tính cơ bản nhất của chuyển động là vận tốc và gia tốc thì không thể nào không có mối liên hệ tương quan với nguyên nhân trực tiếp gây ra chuyển động. Vì vậy mà việc tìm ra mối liên hệ tương quan giữa lực tác dụng vào vật gây ra chuyển động với vận tốc và gia tốc chuyển động là rất cần thiết. Và việc tìm ra mối liên hệ lực tác dụng vào vật gây ra chuyển động với vận tốc và gia tốc cũng vô cùng quan trọng, phải chăng đây cũng được coi là một bước tiến mới của nhân loại, trên con đường chinh phục thế giới vạn vật chuyển động rất huyền diệu và kỳ bí!?
Ta hãy xem xét chuyển động của vật theo quỹ đạo đường thẳng trên mặt đất (coi như mặt đất bằng phẳng, và quỹ đạo chuyển động là đường thẳng). Môi trường chuyển động ở đây là trên mặt đất và có áp suất khí quyển. Ta coi như môi trường chuyển động có tính đồng nhất. Qua xem xét môi trường chuyển động ở đây, ta thấy vật không ở trạng thái hoàn toàn độc lập tự do. Nó chịu một lực từ mặt đất tác dụng lên (là phản lực của trọng lực), và đồng thời chịu áp suất khí quyển. Chính vì vật không ở trạng thái hoàn toàn độc lập tự do, nên ta phải tác dụng một lực đủ lớn (lớn hơn lực cản chuyển động) thì vật mới bắt đầu chuyển động, với một gia tốc tương ứng theo công thức F = m.a. Hãy hình dung việc ta cầm hờ một bó đũa, thì người khác chỉ kéo với một lực rất nhỏ cũng lấy được bó đũa từ tay ta. Nhưng nếu ta cầm chặt bó đũa, thì việc kéo để lấy bó đũa từ tay ta sẽ khó khăn hơn nhiều. Trong trường hợp này, sở dĩ có lực cản chuyển động là do có áp lực từ bàn tay vào bó đũa.
Với trường hợp lực tác dụng không đủ lớn, thì vật vẫn ở trạng thái đứng yên. Lúc này lực tác dụng vào vật luôn tồn tại và cân bằng với một lực, mà ta gọi tên là lực cản chuyển động (trong cơ học cổ điển, quan niệm đây là lực ma sát nghỉ). Lực cản chuyển động có nguồn gốc là phản lực từ mặt đất tác dụng trở lại vào vật. Chúng ta biết là khi chưa có lực tác dụng vào vật, thì phản lực của trọng lực tác dụng vào vật theo hướng từ dưới lên (ngược với chiều của gia tốc trọng trường). Nhưng khi có lực tác dụng vào vật, thì phản lực từ mặt đất tác dụng vào vật sẽ chếch một góc nào đó, so với phương chiều của gia tốc trọng trường. Phân tích phản lực chếch một góc nào đó so với phương chiều của gia tốc trọng trường, ta có hai thành phần lực, một là phản lực của trọng lực và một là lực cản chuyển động. Lực cản chuyển động lớn nhất (tối đa) phụ thuộc vào độ chắc chắn của liên kết giữa vật với mặt đất, và tỉ lệ thuận với độ lớn của trọng lực.
Kí hiệu lực cản chuyển động là Fc, ta có công thức: Fc = Kc.M.G (1)
Trong đó:
Kc: hệ số cản chuyển động
M: khối lượng của vật
G: gia tốc trọng trường.
Khi vật bắt đầu chuyển động, ta có thêm khái niệm vận tốc chuyển động. Lúc này lực cản chuyển động không còn nữa, nó được thay thế bằng một lực cản khác, gọi tên là lực cản vận tốc (trong cơ học cổ điển gọi đây là lực ma sát động). Như vậy cân bằng của vật thể khi chuyển động với một vận tốc nào đó được thiết lập, với tương quan lực tác dụng vào vật được cân bằng với lực cản vận tốc. Lực cản vận tốc chuyển động của vật tỉ lệ thuận với khối lượng vật, và với vận tốc chuyển động. Đây là dạng chuyển động thẳng đều.
Công thức tính độ lớn lực cản vận tốc: Fv = Kv.M.Vt (2)
Trong đó:
Fv: Lực cản vận tốc
Kv: Hệ số cản vận tốc
M: Khối lượng của vật
Vt: Vận tốc chuyển động tại thời điểm t
Hệ số cản vận tốc được xác định như sau:
Ta xem xét các trường hợp vật chuyển động thẳng đều (gia tốc bằng 0), với độ lớn lực tác dụng vào vật khác nhau là F1 và F2 (F2 > F1). Thực hiện phép đo vận tốc, ta được các vận tốc tương ứng là V1 và V2. Hệ số Kv sẽ được tính theo công thức như sau:
Kv = (F2 – F1)/M.(V2 – V1)
Lực cản vận tốc (Fv) có nguồn gốc giống như nguồn gốc của lực cản chuyển động. Có nghĩa là lực cản vận tốc cũng là một thành phần của phản lực từ mặt đất tác dụng trở lại vào vật, do trong quá trình chuyển động, vật luôn tác dụng vào mặt đất một lực tương ứng (là tổng hợp của ngoại lực tác dụng vào vật gây ra chuyển động và trọng lực của vật). Ở đây ta coi như lực cản vận tốc chuyển động của vật do không khí là không đáng kể. Do liên kết giữa vật với không khí là liên kết yếu, nên lực cản vận tốc do không khí, so với do mặt đất là rất nhỏ. Vì vậy, để thuận lợi cho việc xem xét nghiên cứu, ta coi như lực cản vận tốc do không khí là không đáng kể.
Giới hạn tối thiểu và tối đa của lực cản vận tốc: Khi vận tốc chuyển động bằng 0, thì lực cản vận tốc cũng bằng 0, đây chính là giới hạn tối thiểu của lực cản vận tốc. Khi lực tác dụng vào vật đủ lớn, sao cho hợp lực của lực tác dụng và trọng lực của vật đủ lớn để có thể phá huỷ liên kết giữa nó và mặt đất, thì khi đó lực cản vận tốc đạt giá trị tối đa.
Ta xét trường hợp khi lực cản vận tốc chưa đạt giá trị tối đa, mà lực tác dụng vào vật lớn hơn lực cản vận tốc (Ở đây ta xem xét lực tác dụng vào vật là không thay đổi). Quan sát ta sẽ thấy vật chuyển động có gia tốc dương, và đây là dạng chuyển động nhanh dần, với gia tốc giảm dần. Đến một thời điểm nào đó vận tốc chuyển động đạt giá trị tối đa, đồng thời gia tốc chuyển động giảm về 0. Trong quá trình chuyển động nhanh dần này, xuất hiện thêm một lực cản đối với chuyển động, ta gọi tên lực này là lực cản gia tốc (kí hiệu là Fa). Lực cản gia tốc này có giá trị độ lớn tương đương với tích số của khối lượng vật và gia tốc chuyển động. Công thức tính độ lớn của lực cản gia tốc: Fa = M.At (3)
Trong đó:
Fa: Lực cản gia tốc
M: Khối lượng vật
At: Gia tốc chuyển động tại thời điểm t
Ta có công thức mô phỏng trạng thái cân bằng của vật trong quá trình chuyển động nhanh dần, với gia tốc giảm dần như sau:
Ft = Fv + Fa (4)
Hay Ft = Kv.M.Vt + M.At (5)
Mô tả quá trình chuyển động của vật từ thời điểm T0 đến T1 như sau:
T0 là thời điểm vật bắt đầu chuyển động (lúc này vận tốc bằng 0), và T1 là thời điểm vận tốc chuyển động đạt giá trị tối đa (tương ứng với gia tốc bằng 0).
Tại thời điểm T0, thời điểm vật bắt đầu chuyển động, ta có phương trình F0 = M.A0. Đây là phương trình giống như trong cơ học cổ điển. Thời điểm này vật có gia tốc chuyển động lớn nhất, nhưng vận tốc chuyển động bằng 0.
Tại thời điểm T1, thời điểm mà vật có vận tốc đạt giá trị tối đa, và gia tốc giảm về 0, ta có phương trình cân bằng F1 = Kv.M.V1. Đây là phương trình cân bằng của vật ở trạng thái chuyển động thẳng đều. Phương trình này cho ta thấy lực tác dụng vào vật luôn luôn được cân bằng với lực cản vận tốc.
Từ thời điểm T0 đến T1 vật chuyển động nhanh dần, với độ lớn gia tốc giảm dần (vận tốc tăng đồng thời với gia tốc giảm dần), ta có công thức mô phỏng trạng thái cân bằng của vật trong quá trình chuyển động như công thức (5) đã nêu ở trên. Quá trình chuyển động này diễn ra với vận tốc chuyển động tăng dần đến giá trị tối đa, đồng thời gia tốc chuyển động giảm dần về 0.
Nguồn gốc của lực cản gia tốc (Fa).
Do vật chuyển động trong môi trường áp suất khí quyển, nên khi nó chuyển động với một gia tốc nào đó, thì thông thường là áp lực do áp suất khí quyển tác dụng vào nó theo chiều gia tốc bị suy giảm một phần. Chính do có sự suy giảm một phần của áp suất khí quyển đó mà lực cản gia tốc được tạo ra. Ta cũng có thể nói phần áp lực bị suy giảm đó là nguyên nhân trực tiếp để tạo ra chuyển động có gia tốc của vật thể. Còn phần ngoại lực tác dụng vào vật thể lớn hơn lực cản vận tốc (Fv, nếu có) chỉ đóng vai trò là nguyên nhân gián tiếp. Nghĩa là nó chỉ đóng vai trò để cân bằng với lực cản gia tốc mà thôi. Tóm lại, tổng áp lực do áp suất khí quyển tác dụng vào vật theo chiều ngược với chiều của gia tốc chuyển động, chính là nguồn gốc của lực cản gia tốc.
Giới hạn tối thiểu và tối đa của lực cản gia tốc: Do lực cản gia tốc có nguồn gốc từ áp suất khí quyển, nên nó có giới hạn tối thiểu và tối đa. Khi gia tốc chuyển động bằng 0 thì lực cản gia tốc bằng 0, và đây là giới hạn tối thiểu. Giới hạn tối đa của lực cản gia tốc được tính bằng tổng áp lực khí quyển tác dụng vào vật, theo chiều ngược với chiều của gia tốc chuyển động.
Định luật vạn vật cân bằng 2
Một vật chuyển động trong một môi trường vật chất có áp lực, thì ở trường hợp phổ biến, lực tác dụng vào vật góp phần tạo ra sự chuyển động đó, luôn luôn được cân bằng với lực cản vận tốc và lực cản gia tốc. Công thức cân bằng như sau:
Ft = Fv + Fa hay Ft = Kv.M.Vt + M.At Trong đó:
Ft: Lực tác dụng vào vật tại thời điểm t
Kv: Hệ số cản vận tốc
M: Khối lượng vật
Vt: Vận tốc chuyển động tại thời điểm t
At: Gia tốc chuyển động tại thời điểm t
Hệ quả Định luật vạn vật cân bằng 2: Quy luật mức tăng vận tốc giảm dần
Quy luật mức tăng vận tốc giảm dần là một trong những quy luật vật lý có tính phổ biến nhất. Ta coi mặt đất là bằng phẳng, và chuyển động trên mặt đất là chuyển động theo quỹ đạo đường thẳng. Nếu ta tác dụng một lực làm cho vật chuyển động nhanh dần trên mặt đất, mà giữ nguyên độ lớn của lực tác dụng, thì chuyển động đó tuân theo quy luật mức tăng vận tốc giảm dần, cho đến khi vận tốc đạt giá trị tối đa (mức tăng vận tốc có xu hướng giảm dần về 0).
Ví dụ: Ta tác dụng một lực kéo có độ lớn không thay đổi và đủ để một đoàn tàu cao tốc chuyển động nhanh dần cho đến khi đạt vận tốc tối đa là 150km/s, thì quá trình chuyển động nhanh dần đó tuân theo quy luật mức tăng vận tốc giảm dần. Quá trình mức tăng vận tốc giảm dần của đoàn tàu, có thể được mô phỏng như sau: Sau thời gian giây thứ nhất, kể từ khi đoàn tàu bắt đầu chuyển động, vận tốc tàu tăng từ 0 lên đến 30km/s, sau giây thứ hai thì tăng từ 30 lên 57km/s, sau giây thứ ba thì tăng từ 57 lên 79km/s,.. cho đến khi vận tốc đạt giá trị tối đa là 150km/s. Ta có mức tăng vận tốc thứ nhất là 30km/s, mức tăng thứ hai là 27km/s, mức tăng thứ ba là 22km/s,..Điều này có nghĩa là qua quan sát chuyển động nhanh dần của đoàn tàu, ta sẽ thấy sau những khoảng thời gian bằng nhau, thì giá trị độ lớn vận tốc tăng lên (mức tăng vận tốc) có xu hướng giảm dần, cho đến khi vận tốc không tăng thêm nữa (khi đó vận tốc đạt giá trị tối đa).
Nếu mức tăng vận tốc không giảm dần thì sao? Xin thưa là nếu như đường sắt có thể dài đến vô cùng, ta chỉ cần tác dụng một lực sao cho đoàn tàu có thể chuyển động nhanh dần, và với vận tốc không ngừng tăng lên, ta có thể hình dung khi thời gian chuyển động đủ lớn, đoàn tàu sẽ có vận tốc chuyển động là vô cùng lớn.
Hà Nội, ngày 09/02/2023
Tg
KNH